cool hit counter

Kiến Thức Phật Pháp

Kinh nghiệm hoằng pháp (872)

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG


(Bài giảng tại Học viện Phật giáo VN - TP.HCM, ngày 31-7, 18-9, 25-9 và 16-10-2016)

PHẦN 1: TỪ KINH NGUYÊN THỦY NHÌN VỀ KINH ĐẠI THỪA

 Phật giáo mang tính cách nhất quán mà kinh Pháp hoa gọi là Nhất Phật thừa. Tính nhất quán là gì?

Đức Phật khẳng định rằng trong tứ sanh lục đạo, chỉ có loài người mới có điều kiện thành Phật, các loài khác không có điều kiện thành Phật, dù họ có một số điều kiện ưu việt hơn chúng ta, như chư Thiên, chư thần.

Vì vậy, loài người mới được thọ giới Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Hôm nay quý thầy cô đã được thọ giới Cụ-túc là việc hiếm có nhất. Thật vậy, chúng ta cách Phật xa hàng ngàn năm, mà còn được xuất gia và mang hình thức Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni càng khó hơn nữa.

Từ loài người nguyên thủy phát triển lần đến Phật ra đời, chúng ta đã trải qua không biết bao nhiêu năm, mà Phật nói trải qua không biết bao nhiêu kiếp, chúng ta được làm người hôm nay và làm người ở thế giới văn minh thì khó hơn nữa.

Thế giới văn minh này, chúng ta hiểu là trí tuệ, vì trí tuệ mới xây dựng được thế giới văn minh. Cho nên, chúng ta nói thế giới văn minh là thế giới của Phật. Thế giới lạc hậu, chậm tiến, gian tham, trộm cắp là thế giới của ba đường ác.

Trong đạo Phật, chúng ta thấy những người xuất gia mặc áo Sa-môn, nhưng trong hàng Sa-môn Thích tử lại có người thông minh, khỏe mạnh, ngoại hình dễ coi là người ưu việt hơn, gần Phật hơn; đó là Đại thừa Bồ-tát được coi như cao nhất. Những người này thay Phật để dìu dắt, giúp đỡ nhiều người đi vào Phật đạo.

Dưới Bồ-tát cũng có người thông minh, nhưng không khỏe mạnh, hay không có điều kiện giúp người đi lên, được xếp vào hàng Duyên giác có trí tuệ, nhưng không có phước đức là điều kiện giáo hóa chúng sanh không có.

Hạng thứ ba ở trong sinh tử mới phát tâm tu. Tuy họ xuất gia, nhưng sức khỏe không tốt, ngoại hình khó coi, sức thông minh hiểu biết không có, gọi là nghiệp nặng phước mỏng, thuộc hàng Thanh văn.

Cộng chung ba hạng người này, Phật gọi là hàng Tam thừa. Và pháp tu của họ là Tam thừa giáo, tức con đường thống nhất từ thấp lên cao.

Những người hôm nay giáo hóa được nhiều người là hạng Bồ-tát, họ cũng phải trải qua nhiều kiếp tu, nên có đầy đủ trí tuệ và phước đức, điển hình là Đức Phật của chúng ta.

Như vậy, ai cũng tu thành Phật được, nhưng quá trình tu khác nhau. Đức Phật cho biết Ngài phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp tu, tức đã có quá trình tu Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát.

Tu hành, bước đầu tiên, kinh Pháp hoa gọi là dọn dẹp phân nhơ, nghĩa là phiền não phải sạch, đó là a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất phá tất cả nghiệp chướng trần lao, hay phá kiến hoặc và tư hoặc. Giai đoạn hai, chúng ta phá trần sa hoặc. Cuối cùng, phá vô minh hoặc. Đó là con đường xuyên suốt từ thấp lên cao. Không phải pháp môn này cao, pháp môn khác thấp. Cách nhìn Phật giáo nhất quán như vậy.

Chia sẻ với chư Tăng Nguyên thủy và Kim Cang thừa, tôi nói lý này và các ngài chấp nhận rằng không phải Kim Cang thừa cao nhất như một số người hiểu lầm. Kim Cang thừa cao nhất với điều kiện tức thân thành Phật, không phải trì chú là Phật, không phải đắp ca-sa là Phật. Nghĩa là phải đạt tới đỉnh cao có đầy đủ trí tuệ và tâm đại bi viên mãn mới là Phật, gọi là Phật hiện lại. Thí dụ Kim Cang thừa Tây Tạng thờ Liên Hoa Sanh, tức Liên Hoa hóa sanh. Chỉ Liên Hoa Sanh là Phật. Các Lạt-ma khác trì chú, bắt ấn, nhưng không phải là Phật. Chúng ta dễ lầm điều này.

Hoặc khi Phật giáo truyền sang Nhật, Hoằng Pháp đại sư cũng được người Nhật coi là Bồ-tát lớn hiện thân lại, không nói là Phật. Ngài có những điều kiện khác người thường, Ngài thông minh vượt bậc, sức khỏe phi thường và làm được những việc mà người thường không làm được. Ở Nhật, Kim Cang thừa chỉ có Hoằng Pháp đại sư được coi là Tổ của Phật giáo, Tổ của tất cả ngành nghề. Vì Ngài là người sáng tạo chữ Nhật và mở trường dạy văn hóa, dạy các ngành nghề, giúp cho người Nhật phát triển văn minh.

Về sau ở Nhật có Nhật Liên Thánh nhân được tôn danh là Bồ-tát Thượng Hạnh hiện thân lại, chứ không nói Ngài là Phật.

Dù các vị lập giáo khai tông khác nhau, nhưng chúng ta thấy tính nhất quán xuyên suốt, nghĩa là tuy tông phái khác, nhưng vị trí tiến lên thành Phật là con đường duy nhất. Hiểu như vậy, chúng ta không nên đứng lập trường tông phái chê trách nhau, hay xem thường tông phái khác.

Đối với tôi, những người tu khác tông phái, nhưng hiểu biết hơn, mình phải kính trọng, cầu học; đó là thái độ học Phật của chúng ta. Từ góc nhìn này, tôi sang Nhật nghiên cứu 21 tông, hơn 100 phái, nghiên cứu cách tu của họ. Và tôi kết luận rằng tuy tông phái khác, nhưng chúng ta cùng đi trên con đường thống nhất hướng về Đức Phật, về Vô thượng Đẳng giác.

Tuy nhiên, hướng về Phật cũng có khác nhau. Đầu tiên, người ta hướng về Phật là hướng về Phật Thích Ca. Nhưng Phật nhập diệt, để lại pháp. Vì vậy, người ta lấy pháp, hay lấy giới làm thầy; coi pháp như Phật, hay nói giới luật còn là Phật còn.

Nhưng qua Phật giáo Đại thừa nhìn Phật khác, không nhìn Phật là con người. Vì con người thì ai cũng như ai, nhưng Phật Thích Ca không giống ai và không ai giống Ngài. Không giống ở hiểu biết, sức khỏe, ở chỗ tu hành, ở chỗ hóa độ chúng sanh. Chúng ta phải thấy rõ mọi người không giống Phật ở những điểm này.

Theo Đại thừa, dù cùng xuất gia, nhưng những người tu chỉ giống nhau ở màu áo, giống hình thức tu, còn bốn thứ không giống là thông minh, sức khỏe, đạo đức và tu chứng. Nhìn theo Đại thừa như vậy, ta bắt đầu khai thác mảng không giống nhau này, để chúng ta học cái không giống nhau và đi lên.

Chúng ta định vị theo Đại thừa là người đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm hay A-la-hán, hoặc là Bồ-tát sơ địa, nhị địa… Theo tinh thần này, dù tu, nhưng chưa chứng quả Tu-đà-hoàn thì coi như là chưa tu.

Vì vậy, thực tế chúng ta thấy có người hôm nay tu, ngày mai phạm tội và ngày mốt hoàn tục là việc bình thường. Thấy họ tu, nhưng hư hỏng, chúng ta đừng buồn, mà nên coi họ là người mới phát tâm. Tuy nhiên, người mới phát tâm cũng có nhiều hạng khác nhau. Mới phát tâm, họ cầu gì, nhưng không được như ý muốn thì họ không tu nữa cũng là bình thường.

Trên bước đường tu, người có căn lành, ít nhất ở bước đầu phải đạt được quả Tu-đà-hoàn. Nói Tu-đà-hoàn khó hiểu, nhưng thực tế là người này không bị xã hội chi phối, không kẹt cơm ăn áo mặc, khen chê; vì họ có lý tưởng sống. Tối thiểu họ sống được với lý tưởng, nên quên chuyện khen chê, thậm chí đối với việc ăn uống ngủ nghỉ, họ cũng không cần. Họ chỉ lo theo đuổi mục tiêu thánh thiện, đó là người bắt đầu nhập lưu, đi vào dòng thác trí tuệ của Phật, từng bước đi lên. Còn những người khác đứng ngoài lề, kinh Pháp hoa gọi là chúng kết duyên, vui thì tu, không vừa ý thì họ bỏ đi.

Điều quan trọng đối với chúng ta, học kinh để áp dụng được trong cuộc sống tu, áp dụng được kết quả mà Phật đã dạy và đã làm. Nói cách khác, học kinh để tu chứng, không phải trở thành lý thuyết gia giảng dạy lý thuyết.

Ban đầu, tôi nghĩ Phật Thích Ca là giáo chủ Ta-bà, là vị Phật duy nhất theo Nguyên thủy. Nhưng sau đó, tôi nhận thức thêm rằng dù Phật giáo Nguyên thủy cũng có các Phật quá khứ là Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp và chuẩn bị có Phật Di Lặc ra đời.

Như vậy, trước Phật Thích Ca có Phật và sau Phật Thích Ca cũng có Phật. Vậy những vị Phật này ở đâu. Phật giáo Nguyên thủy xác nhận rằng các Đức Phật quá khứ này đều ở thế giới Niết-bàn. Điều này lại gợi cho tôi suy nghĩ thế giới Niết-bàn ở chỗ nào và nó thế nào. Từ chỗ này, chúng ta mới đi vào đạo.

Về sau, thế giới Niết-bàn được triển khai là thế giới Vô sanh. Nhưng Vô sanh cái gì. Chúng ta sẽ tuần tự tìm ra ý nghĩa Vô sanh. Sanh này là phiền não. Vì vậy, đầu tiên chúng ta cắt phiền não, tìm xem phiền não phát ra từ đâu, chúng ta chận từ đó, diệt nó, là Phật giáo Nguyên thủy làm. Tu hành, chúng ta hơn nhau ở điểm chận được phiền não, trước khi phiền não phát sinh, chúng ta không cho nó sanh khởi. Thể nghiệm được như vậy, chúng ta mới thấy rõ pháp sanh diệt rồi thì nó trở về chỗ Vô sanh là Niết-bàn mà ta hướng tới, là thế giới Phật theo tinh thần Nguyên thủy. Không phải nói Niết-bàn nhưng chúng ta không thấy. Từ Niết-bàn theo Phật giáo Nguyên thủy, thấy các Đức Phật hiện hữu trước Phật Thích Ca và sau Phật Thích Ca có Phật Di Lặc.

Phật giáo Nguyên thủy chỉ tin Bồ-tát Di Lặc, không tin tất cả Bồ-tát khác và không tin tất cả kinh điển ngoài Kinh tạng Nikaya, vì họ cho rằng đó là kinh do người đời sau biên soạn. Điểm này khiến giữa Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Đại thừa và Kim Cang thừa không bằng lòng nhau.

Chúng ta phải làm sao cho cả ba hệ thống Phật giáo này gắn kết được với nhau. Giáo hội chúng ta đi đầu trong việc thống nhất tất cả hệ phái Phật giáo thành một Giáo hội. Việc làm này của chúng ta cũng là làm gương cho Phật giáo thế giới chấp nhận sống chung hài hòa và chia sẻ với nhau kinh nghiệm tu hành.

Với tầm nhìn nhất quán, chúng ta giảng kinh Đại thừa không chống đối Kim Cang thừa và Phật giáo Nguyên thủy, đó chính là áp dụng phương tiện quyền xảo của Đức Phật.

Thật vậy, tụng kinh Phổ môn, chúng ta thấy Bồ-tát Quan Âm xuất hiện trên cuộc đời này là tùy duyên, nghĩa là tùy người, tùy chỗ, tùy lúc mà Ngài đáp ứng nhu cầu của mọi người, nên Ngài thành công, tiêu biểu bằng hình ảnh Quan Âm ngàn mắt ngàn tay. Đó là điểm đặc sắc của Phật giáo Đại thừa.

Nếu theo Nguyên thủy, có lập trường cứng rắn dứt khoát, dễ dẫn đến mất mạng. Tôi có người bạn rất thân là Hòa thượng thuộc Phật giáo Nguyên thủy, ông bị bắt năm 1963. Lúc đó, các Hòa thượng Bắc tông bị bắt thay đồ tu, mặc áo tù. Hòa thượng Lâm Em ôm chặt y vô người, vì ông coi mất y như mất mạng, chứ không tùy duyên.

Nhưng tôi gặp Hòa thượng Um Sum, nói với tôi rằng ông là Pháp sư nổi tiếng, một trong 25 Pháp sư của Campuchia. Khi Pôn Pốt nắm quyền, các sư bị giết hết. Ông nhận thấy mình nên cố gắng sống để giữ Phật pháp tồn tại, nếu mình thí mạng thì sau này Phật pháp sẽ không còn. Vì vậy, ông giữ mạng sống bằng cách chôn y và ông mặc đồ rách của nông dân, nên ông còn sống. Tôi nói ông đã khéo léo tùy duyên ứng xử trước tình huống thảm sát như vậy, để sống còn mà truyền bá Chánh pháp; đó chính là thực hiện phương tiện theo Phật dạy.

 

PHẦN 2: TỪ KINH ĐẠI THỪA NHÌN LẠI KINH NGUYÊN THỦY

 

Theo Đại thừa, Phật thành đạo xong, Ngài cũng nghĩ không thể nói cho mọi người hiểu được chân lý, nên Ngài muốn vào Niết-bàn. Nhưng sau đó, Phật nghĩ nếu Ngài nhập diệt, làm sao mọi người nương nhờ được Phật pháp để thoát ly sinh tử luân hồi. Đức Phật mới tùy duyên giáo hóa, Ngài xuống Lộc Uyển giảng pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, từ đó chúng ta mới có Phật pháp. Nghe tôi nói tinh thần quan trọng nhất của Phật giáo là tùy duyên, Hòa thượng Um Sum gật đầu thú vị với ý nghĩa phương tiện này.

Qua kinh Phổ môn, Phật dạy rằng Quan Âm Bồ-tát đến chỗ cần hiện Phật thân, hay Duyên giác thân, cho đến làm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, thậm chí làm đồng tử, Ngài đều làm như vậy, miễn là làm cho người khác phát tâm. Làm người khác thoái tâm là ma đạo.

Nhưng không mặc áo Sa-môn mà làm cho người phát tâm, cũng là Phật đạo. Thực tế cho thấy một số cư sĩ có khả năng giúp người xuất gia tu hành. Hòa thượng Trí Thủ kể rằng ngài học với cụ Lê Đình Thám. Khi phong trào chấn hưng Phật giáo diễn ra, cụ có công làm cho chư Tăng tích cực cầu học và cụ đã đào tạo được lớp lớn như Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Trí Quang…

Như vậy, mang hình thức nào cũng được, là tinh thần Phật giáo Đại thừa và làm người phát tâm, an vui là Phật đạo. Các anh em nên suy nghĩ điểm này để nhận thức đúng đắn về Phật giáo Đại thừa.

Và triển khai tinh thần này rộng hơn nữa, kinh Duy ma nói rằng hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo. Vì vậy, người thông Phật đạo làm trái giáo lý, nhưng làm cho người phát tâm, an lạc là Phật đạo; nếu không hiểu như vậy, trở thành cố chấp, rồi chê bai, dẫn đến phiền não cho mình và cho người, chẳng lợi ích gì.

Tôi nhận ra các kinh điển Đại thừa đã được triển khai từ gốc của kinh Nguyên thủy, mới có các Bồ-tát xuất hiện. Như vậy, có thể nói Bồ-tát cũng từ kinh Nguyên thủy mà ra. Thật vậy, Phật giáo Nguyên thủy chỉ có Bồ-tát Di Lặc, nhưng qua kinh Đại thừa có nhiều Bồ-tát. Và triển khai rộng ra, có Bồ-tát nhân gian là những người ở nhân gian, nhưng có lòng thương người và cứu được nhiều người thoát khổ đau. Xa hơn, chúng ta có các Bồ-tát vô hình. Xa hơn nữa, tới kinh Pháp hoa, xuất hiện Bồ-tát bản địa đóng vai trò rất quan trọng.

Học về Bồ-tát bản địa, tôi có cái nhìn khác hơn người. Có người nói Bồ-tát bản địa từ đất vọt lên, trụ giữa hư không và đảnh lễ tháp Đa Bảo. Tôi nghĩ nói như vậy hơi mê tín. Vì nghiên cứu kinh Đại thừa như Tâm địa quán nói rõ tâm con người được ví như đất. Đất có thể phát sinh đủ thứ, sinh ra cây cỏ, hoa trái nuôi sống con người.

Khi về khu Học viện này, chúng ta thấy từ mảnh đất này đã mọc lên cây Sa la, cây Bồ-đề, vì có người tu ở đây thì phong cảnh phải khác. Thật vậy, trước mùa hạ, ở đây còn hoang vắng, nhưng khi tu hành trang nghiêm, sức sống ở đây phát triển kỳ diệu. Có thể nói trên mảnh đất này sinh ra cỏ dại, mà cũng sinh ra Học viện, sinh ra các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni học ở đây.

Sáng nay, tôi qua thăm khu bên kia, thấy mảnh đất này đã sinh ra nấm để nuôi sống đại chúng. Đẹp nhất là nếu được Phật giáo hóa, gọi tắt là Phật hóa thì cái xấu nhất cũng trở thành tốt. Nói cách khác, được Phật giáo hóa sẽ chuyển Ta-bà thành Tịnh độ. Bằng chứng cụ thể là năm năm trước, bắt đầu giao đất ở đây, tôi thấy cả khu rừng hoang, nhưng được Phật hóa, chẳng bao lâu khu đất này biến thành trường.

Vì vậy, các Bồ-tát Tùng địa dũng xuất thân kim sắc là do Phật giáo hóa. Bồ-tát Di Lặc sanh nghi ngờ, nói rằng Phật mới thành đạo, nhưng các Bồ-tát này đầy đủ đức tướng, làm sao trong thời gian ngắn mà được như vậy.

Theo tôi, có thể hiểu được Phật giáo hóa là đưa vào trong con người những đức tánh tốt. Ngày trước có thể họ sống không tốt, nhưng nhờ được thấm nhuần pháp Phật đã chuyển họ từ người tội lỗi trở thành người tốt, thậm chí trở thành Hiền Thánh.

Bốn vị thượng thủ của Bồ-tát Tùng địa dũng xuất nghĩa là Phật đã được đầu tư viên mãn vào mảnh đất tốt, mảnh đất tâm thuần thiện của những con người siêu việt, mới sanh ra Thượng Hạnh Bồ-tát, Vô Biên Hạnh Bồ-tát, Tịnh Hạnh Bồ-tát, An Lập Hạnh Bồ-tát.

Quý thầy cô học được hạnh tốt của Bồ-tát Thượng Hạnh là thích làm việc khó, cũng là tu theo Đức Thích Ca. Việc dễ để người khác làm. Người Nhật nói dễ thương rằng Đức Phật chỉ đào tạo người cứu đời, không đào tạo người ăn hại. Người lánh nặng tìm nhẹ là người đáng loại bỏ. Nếu xuất hiện ở Ta-bà nhiều người làm việc khó làm thì sỏi đá Ta-bà cũng biến thành gạo trắng nước trong.

Có thể nói Phật giáo mang tính nhất quán, mà ngày nay các nhà trí thức đều công nhận rằng điều đó là đương nhiên và tất yếu, vì nếu Phật giáo cố chấp một pháp môn, hay một định kiến đều đưa Phật giáo đến tan rã. Đó chính là kinh nghiệm hơn hai ngàn năm truyền đạo của tu sĩ Phật giáo trên thế giới, cũng như kinh nghiệm của riêng tôi, hơn 40 năm hoằng pháp và 26 năm làm Trưởng ban Hoằng pháp.

Từ Phật giáo Nguyên thủy sang Phật giáo Đại thừa, ta coi là một, không phải khác. Và ngược lại, nhìn từ Đại thừa về Nguyên thủy cũng mang tính nhất quán.

Nếu chúng ta chấp pháp môn nào, thường cho rằng chỉ có pháp môn đó là pháp Phật và chống lại các pháp môn khác, làm Phật giáo suy yếu. Lịch sử đã cho thấy bài học đắt giá này.

Khi Phật tại thế, Ngài có mười Đại đệ tử lãnh đạo theo hướng khác nhau, nghĩa là giáo lý Phật là một, nhưng mỗi người hiểu giáo lý và ứng dụng khác nhau, tất nhiên mang lại kết quả khác nhau. Vì vậy, các Thánh La-hán chứng quả không đồng nhau, nên thuyết pháp, giáo hóa cũng không giống nhau.

Tuy nhiên, còn Phật hiện hữu, nên họ lấy Phật làm trung tâm điểm, các La-hán thuyết pháp đều hướng về Phật mà giảng dạy, bấy giờ Phật giáo dễ dàng mang tính thống nhất.

Nhưng Phật dạy rằng sau khi Ngài vào Niết-bàn, Tăng Ni phải tập hợp để thường xuyên kiểm tra việc làm và suy nghĩ của mình đúng hay sai; nếu được đại chúng chấp nhận hoàn toàn là đúng. Không được đại chúng chấp nhận là sai, phải sửa đổi. Vì lấy ý kiến chung của đại chúng mà thi hành, nên có sự thống nhất trọn vẹn.

Vì vậy, nếu ba lần yết-ma phải có sự đồng ý hoàn toàn của tất cả mọi người. Giả sử có 99 người đồng ý, chỉ một người không đồng ý, cũng phải trao đổi sao cho người đó đồng ý. Điều này thể hiện tinh thần thống nhất gọi là Phật thừa.

Còn ý kiến riêng là Thanh văn thừa, Bồ-tát thừa. Nhất là Bồ-tát có đến 84.000 pháp môn, tức mỗi Bồ-tát có tâm nguyện và việc làm riêng, tạo thành kết quả khác nhau, nhưng cũng phải đưa đến thành Phật, không thành cái gì khác, thành cái khác là rơi vào ác ma.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy Phật giáo Ấn Độ phân chia nhiều hệ phái, khi hệ phái nào nổi lên cao, được vua chúa, hay quần chúng ủng hộ thì có thể xem thường, khích bác hệ phái khác, đưa đến sự chia rẽ làm Phật giáo suy yếu cho đến diệt vong.

Khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc cũng bị hệ lụy này khi bắt đầu phát triển những tông phái, đương nhiên là Phật giáo Đại thừa nổi trội. Phật giáo Nguyên thủy không vào Trung Quốc được, vì người dân nước này coi tu sĩ khất thực là xin ăn, nên những người đầu tiên truyền đạo như ngài Trúc Pháp Lan vẫn không được chấp nhận.

Nhưng Phật giáo Đại thừa truyền vào Trung Quốc được chấp nhận. Thật vậy, bắt đầu từ Tam luận tông lấy triết học Trung quán của Bồ-tát Long Thọ làm chủ yếu. Kiến giải này phù hợp với tư tưởng Lão Trang, Khổng Mạnh đã có từ lâu đời ở Trung Quốc, nên Phật giáo Đại thừa được người Trung Quốc tiếp thu.

Thiết nghĩ ở thế kỷ XXI, chúng ta có cái nhìn tổng quát và thoáng hơn, khẳng định Phật giáo là đạo của trí tuệ và Đức Phật đạt được đỉnh cao của trí tuệ mới thành tựu quả vị Phật, hay giác ngộ viên mãn.

Nói về trí tuệ, nói rộng là trí tuệ từ con người nguyên thủy cho đến trí tuệ của con người thời Phật tại thế và con người thời hiện đại. Thời nguyên thủy, người ta thấy như thế và thời Phật hiện hữu, người ta thấy khác, cho đến tương lai chắc chắn thấy khác hơn nữa, nên Phật cho phép Tăng Ni thay đổi điều Phật chế. Những điều Phật chế không còn thích hợp, chúng ta không sử dụng. Những điều chưa có, chúng ta đưa vào.

Nhìn xa hơn, mỗi thời kỳ, xã hội có tiến bộ, nên người ta có thể thấy khác, hiểu khác và áp dụng cách sống khác. Từ đó, pháp Phật được áp dụng tùy theo thời kỳ mà có khác. Thứ hai là tùy hoàn cảnh của từng người có hiểu biết khác, nên việc áp dụng pháp tu cũng khác. Thứ ba là không gian khác, nên cái nhìn của con người cũng khác và áp dụng vào cuộc sống cũng khác. Đó là lập trường căn bản của Phật dạy nói lên sự thay đổi thiết yếu của việc ứng dụng pháp Phật trong cuộc sống con người.

Sau Phật Niết-bàn, trong Phật giáo có thành phần tiến bộ hoạt động theo hướng phát triển, vì phát triển là xu thế tất yếu của thời đại. Từ đó mới có Phật giáo Phát triển khác với Phật giáo Nguyên thủy.

 Thí dụ loài người sơ khai chưa tìm được lửa, nên họ ăn sống, nhưng khi con người văn minh, tiến bộ, tìm được lửa, người ta đã biết nấu chín thức ăn và biết tìm hạt giống trồng tỉa…

Phật giáo phát triển cũng vậy, sau Phật nhập diệt 500 năm, từ Phật giáo Nguyên thủy tiến sang Phật giáo Đại thừa cũng căn cứ trên lời Phật dạy mà phát triển, không phải giữ nguyên.

Tuy nhiên, phát triển, nhưng không được khác với giáo lý căn bản. Vì vậy, Phật giáo phát triển, đổi mới để thích nghi, nhưng không ngoài nghĩa giải thoát của Phật. Nếu phát triển làm lệch hướng giải thoát là rơi vào tà đạo. Tăng Ni phải thấy rõ ý này.

Từ Phật giáo Nguyên thủy nhìn lên Phật giáo Đại thừa, rõ ràng là có hướng phát triển mà căn bản là Tứ Thánh đế. Căn cứ vào pháp tu Tứ Thánh đế giúp chúng ta từng bước được giải thoát. Nói cụ thể, điều chứng được thứ nhất là không lệ thuộc xã hội, không lệ thuộc thiên nhiên. Tu sĩ, hay cư sĩ đều phải bớt lệ thuộc hai thứ này, vì lệ thuộc nhiều thì phát sinh phiền não, nghiệp chướng, trần lao, không được giải thoát.

Và áp dụng Thiền Tứ niệm xứ, chứng quả Dự lưu đầu tiên thì không lệ thuộc xã hội và thiên nhiên, nói rõ là không lệ thuộc ăn, mặc, ngủ, nhờ đó có cái nhìn sáng suốt, thấy việc nên làm, việc không nên làm. Tiến lên cao, đắc La-hán, đạt được Bát Chánh đạo thể hiện đời sống mẫu mực của người tu, là pháp căn bản của Phật giáo Nguyên thủy; nhưng Phật không dừng lại ở điểm này.

Thật vậy, sau khi giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như và 50 thanh niên dòng Da Xá đắc quả A-la-hán, Phật bảo mỗi người đi một hướng để truyền đạo, nghĩa là phát tâm Bồ-đề, hành Bồ-tát đạo.

Chưa đắc La-hán mà truyền đạo, dễ lệch hướng. Đắc La-hán mới tin mình được, vì đã có cái nhìn sáng suốt, mới không mắc sai lầm, biết rõ yêu ma mới có thể vào đời độ sanh. Phật khuyên mỗi người đi một hướng là phát tâm Đại thừa độ sanh, không phải đắc La-hán rồi vô Niết-bàn, nhập diệt luôn.

Đắc La-hán, phải nghĩ đến độ người khác, là hướng đi lên từ Nguyên thủy sang Đại thừa.

Đắc La-hán thấy chính xác, thấy người đáng độ, việc đáng nói, nhưng cũng phải thấy thêm điều đúng đắn này có nên nói hay không. Chưa nên nói, vì chưa phải lúc. Nói sớm không được, nói muộn cũng không được, phải nói đúng lúc và nói với ai. Phật biết rõ nhân duyên của Ngài với người cần được Ngài độ, Ngài mới xuất hiện để giảng dạy. Phật chỉ độ được người có duyên, không phải gặp ai Ngài cũng nói. Phật cho biết Đức Di Lặc đủ điều kiện thành Phật, nhưng Ngài chưa ra đời, vì chưa phải lúc, là chưa có đúng đối tượng để Ngài giáo hóa.

Tăng Ni nghĩ rằng học xong, đi thuyết pháp giáo hóa, nhưng biết bao người làm vậy mà bị chết, gọi là tử đạo, nhưng có nên tử hay không. Tu hành, không được nông nổi, phải cẩn thận. Biết điều đúng, nhưng nói vì bị kích động, vì bực tức là nguy hiểm, chuốc họa vào thân. Làm hoằng pháp phải nhớ rõ điều này.

Trên bước đường giáo hóa độ sanh, Phật nói đúng người, đúng lúc. Thật vậy, Phật giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như đắc Thánh quả và độ Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp rồi, tức Phật chuyển hóa được ngoại đạo, sau đó Phật có trên một ngàn đệ tử thì uy tín Phật lớn như vậy, vua Tần Bà Sa La mới ngưỡng mộ Phật, Phật mới trở lại Vương Xá thành, gặp Tần Bà Sa La. Ông liền dâng cúng Phật tịnh xá Trúc Lâm, nghĩa là Phật đã đến đúng lúc. Lúc đó, Phật có trên một ngàn đồ chúng xuất gia, Ngài phải nghĩ đến chỗ ăn ở cho họ. Với số lượng người đông như vậy, chỉ có vua Tần Bà Sa La kham làm và vua đã hỗ trợ mùa an cư đầu tiên. Nếu trước đó, vua cúng dường khu vườn này, chắc chắn Phật không nhận, vì đặt để ai ở đây. Hành đạo đúng lúc, đúng người, đúng chỗ mới đạt được kết quả tốt.

Chúng ta là đệ tử Phật cũng lấy trí tuệ làm gốc, tất yếu phải có cái nhìn theo Phật, là nhìn từ Nguyên thủy tiến lên Đại thừa. Khi Phật giáo Đại thừa phát triển mạnh ở Trung Quốc, tông Thiên Thai và tông Hoa Nghiêm ra đời. Bấy giờ, chư Tăng lấy hai bộ kinh Đại thừa quan trọng này làm định hướng tu hành.

Tông Thiên Thai khởi đầu từ ngài Huệ Văn và tiếp theo là Huệ Tư thiền sư, do ngộ Đại Trí độ luận của Bồ-tát Long Thọ mới phát triển thành Tam trí tam quán. Trước tiên, ngài Huệ Văn tiếp nhận Trung quán luận của Long Thọ và ngài thực tập có kết quả, đưa ra kiến giải rằng Thanh văn thấy pháp khác, Bồ-tát thấy pháp khác và Phật thấy pháp khác, tức thấy không đồng nhau, gọi là Tam thừa.

Thật vậy, Thanh văn đã đoạn kiến hoặc, tư hoặc, đắc La-hán, nên thấy pháp khác với chúng sanh còn kẹt kiến hoặc, tư hoặc. Thương thì thấy tốt, không thương thì thấy xấu, gọi là tư hoặc, tức thấy theo tình cảm. Thấy theo sách vở, học vấn là kiến hoặc thì người học pháp này biết pháp này, không chấp nhận cái biết của người khác, nên luôn đối phó, cạnh tranh, không giải thoát và ở trong sinh tử luân hồi.

Trong khi Thánh A-la-hán đã đoạn kiến hoặc và tư hoặc, nên thấy chính xác. Họ không thấy bằng tình cảm, bằng học thức, nhưng thấy bằng trực giác, đó là kiến giải theo tu chứng của La-hán.

Thấy theo kinh nghiệm và biết theo sách vở sẽ trở thành học giả, nhà nghiên cứu, không phải là Thánh giả, Hiền giả, hay tu sĩ. Vì vậy, nhiều khi quý vị học bên ngoài với giáo sư là nhà nghiên cứu, họ không phải là thầy tu, mà quý vị lại chịu ảnh hưởng, thì trở thành học giả, không phải là tu sĩ nữa.

Thánh giả, Hiền giả chủ yếu thực tập pháp Phật và tu hành mà chứng ngộ, không qua kinh nghiệm, hiểu biết theo sách vở, đó là cái tự nhiên biết thì nhìn người biết họ xấu tốt thế nào, họ làm được gì, nên giao việc là thành công, thể hiện sự thấy biết chính xác. Còn thấy theo kinh nghiệm, sách vở dễ phạm sai lầm, may lắm đúng được 50%.

Hòa thượng Trí Tịnh nói rằng khi tôi hỏi mà ngài trả lời không suy nghĩ, có thể chính xác đến 70-80%, nhưng suy nghĩ trả lời đúng 50% là tốt rồi. Vì có suy nghĩ là vọng thức, vọng niệm, vọng tâm. Trả lời bằng vọng thức thì may lắm đúng một nửa. Bằng vô tâm, Phật biết chính xác 100%, Bồ tát biết được 80%, Thanh văn biết được 70%. Như vậy, điều quan trọng là chúng ta phải học, thực tập và chứng được pháp Phật để thấy biết đúng đắn.

Hiểu biết của thế tục do học, nhưng cái biết của ngoại đạo do ma lực, chúng ta nên cẩn thận, ngày nay gọi là bùa chú. Do chúng ta trì chú, cầu đảo, van xin thì tương ưng với ma nào, ma đó sẽ cho chúng ta biết, là biết theo ma. Nhưng ma không dựa nữa, chúng ta không biết, tà giáo thường rơi vô tình huống này.

Lịch sử cho thấy Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp luyện bùa, nhưng Phật đến thì đạo lực của Ngài mạnh hơn, khiến cho ma lực phải tan; nói cách khác, khi có Phật, ma không dựa ông được là ông mất thần thông. Bao nhiêu công phu luyện tập bùa chú của Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp bỗng chốc tan biến. Điều này dễ hiểu, thí dụ đơn giản như khi chúng ta đối trước một bậc tu hành đạo cao đức trọng, tự nhiên khiến cho mình trở nên lúng túng.

Trên bước đường tu, chúng ta biết do chư Thiên mách bảo, là nhờ căn lành, đạo đức của chúng ta. Thật vậy, khi trì giới thanh tịnh, tâm tốt, Long thiên Bát bộ thường đến hộ trì, giúp chúng ta biết được một số việc. Và được như vậy, chúng ta nỗ lực tu sẽ được cái biết bằng trực giác. Đó là khi thực tập Thiền quán, tự nhiên tâm thanh tịnh khiến chúng ta biết đúng việc sẽ xảy ra.

Trường chúng ta chọn dạy bộ kinh Pháp hoa là kinh cao nhất trong hệ Đại thừa và kinh A-hàm tiêu biểu cho hệ Nguyên thủy, hay kinh Nikaya theo hệ thống Pali.

Người Đại thừa đối chiếu kinh Đại thừa với Nguyên thủy qua bốn bộ A-hàm. Và từ A-hàm, chúng ta tiến lên một bước, qua kinh Hoa nghiêm, Bát-nhã, Pháp hoa. Và từ đỉnh cao Pháp hoa, nhìn xuống các kinh. Đó là con đường hai chiều xuyên suốt từ gốc lên cao và từ cao đi ngược xuống cội nguồn. Nghĩa là từ Nguyên thủy phát triển lên Đại thừa và từ kinh Đại thừa, chúng ta nhìn ngược lại kinh Nguyên thủy cũng nhận ra có sự thống nhất xuyên suốt.

Từ Đại thừa quay ngược lại Nguyên thủy là chúng ta hành Bồ-tát đạo, học kinh Đại thừa, giảng kinh Đại thừa, sống theo tinh thần Đại thừa, nhưng phải luôn luôn đối chiếu với Nguyên thủy, tức không bỏ tạng kinh A-hàm, hay Nikaya.

Trường chúng ta lấy kinh Nguyên thủy làm gốc, lấy kinh Đại thừa làm phương tiện giáo hóa. Vì chỉ giữ tạng kinh Nikaya, thì rơi vô cục bộ, hay chỉ giữ kinh Đại thừa, không đối chiếu với Nikaya dễ bị sai lầm. Trường chúng ta kết hợp cả hai, các thầy cô học Nikaya lấy đó làm nền tảng và sau học kinh Đại thừa cũng đối chiếu với kinh Nguyên thủy, không được rời kinh Nguyên thủy.

Về kinh Đại thừa, tôi chọn ba bộ kinh: Pháp hoa, Hoa nghiêm Bát-nhã làm nền. Đương nhiên các kinh khác, chúng ta cũng đưa vô được, nhưng cũng phải đem đối chiếu với kinh Nguyên thủy. Cái nào không thích hợp, chúng ta không chê, nhưng không sử dụng.

Trường chúng ta cũng có môn học bắt buộc là kinh Pháp hoa, giáo sư khác dạy bộ kinh này, còn tôi chỉ nhắm vô khía cạnh hoằng pháp khi triển khai kinh Pháp hoa.

Đứng lập trường Pháp hoa nhìn Nguyên thủy bằng cách nào. Kinh Pháp hoa nói rằng trước khi Phật nói kinh này, Phật nói kinh Vô lượng nghĩa. Theo tôi, kinh Vô lượng nghĩa là kinh Nguyên thủy, nghĩa là từ kinh Nguyên thủy, nhưng chúng ta tìm thấy được nghĩa lý sâu hơn và triển khai những yếu nghĩa này, tập hợp thành kinh Vô lượng nghĩa.

Trước nhất, chúng ta học kinh văn tự và nếu chấp vào chữ nghĩa là phải như thế, thiết nghĩ không thể đúng được. Đương nhiên lấy kinh văn tự làm nền tảng là phần căn bản. Nhưng qua phần hai sâu hơn là nghĩa lý sâu xa ẩn chứa bên trong cũng rất quan trọng theo tinh thần Đại thừa. Kinh văn tự ai cũng đọc được, nhưng hiểu nghĩa lý sâu thì mỗi người hiểu khác nhau.

Vì vậy, kinh là một, nhưng vì trình độ khác phải hiểu khác, nên gọi là Vô lượng nghĩa, tức có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trở về Nguyên thủy, dù nhiều nghĩa, cũng không nằm ngoài ba nghĩa chính là đạo đức, trí tuệ và làm lợi ích cho cuộc đời. Kinh Nguyên thủy cũng như các bộ kinh Đại thừa đều dạy chúng ta thực hiện ba điều chính yếu này.

Thật vậy, Phật giáo chỉ nhằm xây dựng mẫu người đạo đức trên nhân gian. Con người không đạo đức thì không dùng được. Kinh Nguyên thủy đào tạo người tốt trong xã hội là Hiền nhân và Thánh nhân. Phật dạy các Tỳ-kheo tuyệt đối không chống trái việc người khác khi tiếp xúc. Chúng ta không tranh cãi hơn thua, không trái với suy nghĩ và đời sống của người khác là đạo đức của Phật giáo.

Theo tôi, người tốt là người không làm mất lòng ai. Đó cũng là lập trường căn bản nhất khi tôi nhận trách nhiệm hoằng pháp. Việc đầu tiên, đối với các thầy Bắc tông, tôi rất gần, nhưng khi đến tịnh xá, tôi cũng không làm mất lòng các vị Khất sĩ. Ngoài ra, thuyết pháp, tôi không làm mất lòng các thầy Nam tông. Còn thuyết pháp mà chống phá tất cả mọi người, chắc chắn không thể sống được, dù giỏi.

Trên bước đường tu, Phật dạy chúng ta không làm mất lòng người, như các Tỳ-kheo vào làng khất thực giống như ong lấy mật hoa không làm hư hoa. Tu là thế, không thể khác. Phật có cái nhìn tổng quát về các tôn giáo đương thời và Ngài chia sẻ việc tu hành, Ngài nói đúng với suy nghĩ của họ, họ mới theo. Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp và Xá Lợi Phất là giáo chủ ngoại đạo theo Phật, vì Phật giúp họ an lạc, giải thoát.

Chúng ta thay Phật truyền bá Chánh pháp cũng phải làm như vậy. Nếu chúng ta làm mất lòng ba người anh em: Nam tông, Bắc tông và Khất sĩ là tự phá nhau, tự hại mình, phạm điều tối kỵ.

Nói không làm mất lòng thì nên nói. Yên lặng không làm mất lòng, nên yên lặng. Đáng nói, ta nói là Chánh pháp. Đáng yên lặng, ta yên lặng là Chánh pháp. Mặc áo Sa-môn, nói Chánh pháp nhưng làm mất lòng người là tà nhân nói Chánh pháp khiến cho người phỉ báng Phật, chê bai Phật giáo.

Làm người tốt, làm Sa-môn tốt, làm Thánh Tăng trên cuộc đời là nền tảng đạo đức của kinh Pháp hoa. Không có đạo đức, đừng nói cái khác cho phí công. Đạo đức là giới, nhưng không nói như vậy, vì sợ rơi vô chấp giới.

Nghĩa thứ hai của Vô lượng nghĩa là trí tuệ. Trí tuệ là định và tuệ, vì định mới sanh tuệ. Và có tuệ để chúng ta thấy nhân duyên sanh các pháp. Các pháp vốn không thật, vì do nhân duyên mà sanh và theo nhân duyên mà diệt. Cho nên nhân duyên sanh, ta nói nó sanh. Nhân duyên diệt, ta nói nó diệt. Nói ngược lại là sai lầm lớn.

Một giáo sư Nhật lấy thí dụ rất hay. Ông giảng rằng các thầy cố chấp lời Phật dạy là phạm sai lầm lớn. Thí dụ Phật đang thuyết pháp, có con chim bay ngang. Phật chỉ cho mọi người thấy con chim phượng hoàng đang bay trên bầu trời. Nhưng nếu các thầy lặp lại, nói con chim đang bay thì không còn đúng. Muốn lặp lại, phải nói chim đã bay qua rồi.

Nếu biết Phật giáo diệt mà cố làm cho nó sanh là mất mạng. Cho nên tôi thấy một số thầy ẩn tu chờ Phật Di Lặc ra đời, vì xuất hiện sẽ thọ nạn. Nhưng nhân duyên sanh mà không làm đạo, chúng ta đánh mất cơ hội. Thực tế cho thấy sau ngày giải phóng đất nước, tất cả sinh hoạt bị hạn chế, nếu ra thuyết pháp e rằng khó sống. Nhưng ngày nay, Nhà nước công nhận tôn giáo, nhất là Phật giáo, mà chúng ta không làm là bỏ mất cơ hội tốt.

Tôi làm được việc không phải vì giỏi. Lúc trước chưa làm được, nên nhiều người giỏi hơn tôi cũng không làm được. Chúng ta xây dựng được ngôi trường này, có thể tập hợp người tới, vì Nhà nước cấp đất, cấp phép, Tăng Ni, Phật tử ủng hộ. Mấy chục năm trước mà tập hợp đến đây, chắc chắn gặp nạn.

Quan trọng trong việc hành đạo, các pháp sanh, ta theo đó sanh. Các pháp diệt, ta theo đó diệt. Phật giáo phát triển được thì ta phát triển. Phật giáo diệt thì ta ẩn tu. Làm được mà không làm là rơi vô ích kỷ. Không làm được mà cố làm là bỏ mạng.

Phật khẳng định thấy pháp sanh diệt là người đã chứng Vô sanh, nên tùy theo sanh diệt mà xuất hiện trên cuộc đời để giáo hóa độ sanh, không phải lúc nào ta cũng làm được.

Việc thứ ba trong kinh Nguyên thủy, Phật dạy mỗi người đắc Thánh quả đi một hướng, đem hiểu biết, tu chứng dạy người, đừng bỏn sẻn, ích kỷ. Vì có người học được, nhưng không muốn làm.

Chúng ta học được, phải nghĩ đến ơn người trước, ơn thầy Tổ, nên làm để trả ơn. Tôi giảng dạy Tăng Ni là tôi đã trả ơn Phật, ơn thầy Tổ. Không làm như vậy, tôi thiếu nợ đàn-na thí chủ, thiếu nợ Phật, nợ thầy Tổ. Làm là báo ơn, nói rõ là làm lợi ích cuộc đời. Kinh Nguyên thủy cũng ghi rõ ý này.

Vì vậy, đọc kinh Vô lượng nghĩa, lấy ba ý chính là đạo đức, trí tuệ và làm lợi ích cho đời, ghi nhớ ba ý này đem vô tâm mình. Từ ba ý này sanh ra muôn ngàn ý khác để ứng dụng, kinh Đại thừa thường nói là lấy bất biến ứng vạn biến. Thiên biến vạn hóa cũng từ cốt lõi ba điều này. Đó là ý nghĩa từ kinh Pháp hoa nhìn ngược về kinh Nguyên thủy có một sự xuyên suốt.

Trước khi nói kinh Pháp hoa, Phật nói kinh Vô lượng nghĩa. Nói rõ là kinh Nikaya có trước kinh Pháp hoa. Và kinh Pháp hoa là đạo đức và trí tuệ cao nhất của con người cùng với việc làm lợi lạc cho nhân sinh, ba điều quan trọng này kết hợp lại mà thành bộ kinh Pháp hoa đúng nghĩa. Không phải kinh Pháp hoa là bộ kinh giấy trắng mực đen.

Đạo đức trong sạch như hoa sen và trí tuệ cao tột là Diệu pháp được ví như viên ngọc Ma ni. Vì vậy, kinh Pháp hoa tiêu biểu cho viên ngọc sáng nằm trong hoa sen, tức giáo pháp nằm trong con người đức hạnh.

Giáo pháp Phật từ kinh Nguyên thủy phát triển nghĩa lý sâu xa thành kinh Đại thừa và được truyền sang Tây Tạng, Ngài Liên Hoa Sanh dựng thành một câu là Um Mani Pad Me Hum, tức hoa sen chứa một viên ngọc. Nói cách khác, giáo lý Phật, hay một đời giáo hóa độ sanh của Phật trong 45 năm, hay 49 năm thể hiện trong kinh Nikaya và kinh Pháp hoa, nói lên đạo hạnh thánh thiện và trí tuệ siêu tuyệt của Phật, kết tinh thành một viên ngọc sáng trong hoa sen.

Đi vào Pháp hoa qua kinh Vô lượng nghĩa để chúng ta phát huy đạo đức, trí tuệ và làm lợi ích cho đời. Điều này, đọc lại bài nguyện hương sẽ thấy rõ: Giới hương, định hương, dữ huệ hương, giải thoát, giải thoát tri kiến hương… Năm phần tâm hương này nếu phát huy đúng như pháp, sẽ trở thành Pháp thân của chúng ta. Còn Pháp thân Phật ở đâu.

Pháp thân Phật ở trong sanh thân Phật, trong viên mãn Báo thân Phật. Ta cũng có Pháp thân, nhưng chưa phát huy được Pháp thân, vì còn phiền não, nghiệp chướng, trần lao. Người ta thường nói kẻ thù lớn nhất của đời ta là ta. Ta này là nghiệp chướng, là phiền não của ta. Nhưng vì lầm chấp nghiệp và phiền não là ta, nên phải khổ với cái thân này.

Phật dạy rằng thân tứ đại ngũ uẩn của mọi người giống nhau, nhưng khác nhau ở điểm biết sử dụng thân này tu để chuyển hóa sanh thân thành thân đạo đức là Thánh hiền. Thân phi đạo đức là ác ma. Như vậy, mọi người khác nhau ở điểm chuyển biến ngũ uẩn thành Pháp thân. Từ đó, Phật dạy tất cả mọi việc, mọi người, nói chung là tất cả các pháp đều có thể thay đổi, chuyển hóa được.

Phật nói thân người là quý, phải trân trọng nó, không phải thân này là kẻ thù. Vì có thân người, ta mới có thể chuyển hóa thành Thánh hiền. Thân này tạo phiền não, trần lao, nghiệp chướng, nhưng ta tu, chuyển hóa phiền não, trần lao, nghiệp chướng thành Pháp thân của chúng ta là thân đạo đức, thân trí tuệ, thân làm lợi ích cho người.

 

PHẦN 3: TỪ KINH PHÁP HOA NHÌN VỀ KINH NGUYÊN THỦY

 

Phật giáo Đại thừa nhìn về Phật giáo Nguyên thủy, lấy kinh Pháp hoa làm chuẩn, vì kinh Pháp hoa thể hiện được tính cách cao nhất trong tinh thần nhất quán. Trong khi các kinh khác chuyên Đại thừa, hay thuần Đại thừa thì dễ rơi vô cực đoan.

Theo Trí Giả, trước tiên Phật nói kinh Hoa nghiêm, rồi đến kinh A-hàm, kinh Phương đẳng, kinh Bát-nhã, kinh Pháp hoa và kinh Niết-bàn. Ngài phán định như vậy, đương nhiên về mặt tín ngưỡng, mặt tu chứng chấp nhận được. Nhưng về mặt lịch sử thì khác với lãnh vực tu hành, nên cách nhìn theo ngài Trí Giả không được chấp nhận.

Thật vậy, nếu nhìn theo lịch sử thì giống nhau, nhưng về tôn giáo, mỗi người có một cách nhìn khác nhau và về tu chứng còn thay đổi theo từng giai đoạn tu hành.

Tuy nhiên, ngày nay chúng ta học Phật, làm sao phải thấy xuyên suốt là Phật thừa, tức thấy theo Phật thì tất cả Phật đều thấy giống nhau, gọi là Phật Phật đạo đồng.

Chúng ta chọn kinh Pháp hoa là đứng lập trường Phật thấy có 84.000 pháp môn khác nhau, mà pháp môn nào cũng đúng, cho nên đương nhiên có 84.000 chân lý khác nhau của người tu. Nói dễ hiểu, ngay bản thân chúng ta khi mới xuất gia có cái thấy khác với khi đã trải qua thời gian dài tu hành và cái thấy còn khác hơn nữa khi chúng ta thành đạo.

Mở đầu kinh Pháp hoa có kinh Vô lượng nghĩa và kinh Vô lượng nghĩa thống nhiếp từ kinh Nguyên thủy đến kinh Đại thừa, hay một đời thuyết pháp của Phật, đó là cách nhìn của Pháp hoa.

Tại sao gọi là Vô lượng nghĩa. Vì Phật tùy duyên thuyết pháp. Các anh em theo Phật, nhớ tùy duyên là tùy hoàn cảnh, tùy trình độ, tùy thời kỳ, tùy quốc độ khác nhau mà có cách ứng xử tương ưng. Điều này rất quan trọng. Nếu chúng ta vào vùng ngoại đạo, biết tùy duyên như Xá Lợi Phất sẽ không chết, hay cao hơn, như Phật chuyển ngoại đạo thành Phật đạo.

Kinh Nguyên thủy nói về cuộc đời của Đức Phật từ Phật Đản sanh đến Phật Niết-bàn. Nhưng theo Trí Giả, Phật chỉ nói kinh A-hàm trong 12 năm đầu, về sau còn có kinh Phương đẳng (Thông giáo-Quyền thừa), Bát-nhã (Biệt giáo-Đại thừa), Pháp hoa (Viên giáo-Thượng thừa).

Kinh A-hàm theo Trí Giả là thực tế cuộc sống, thực tế lịch sử. Nói cách khác, là Bát Chánh đạo (Thanh văn tạng).

Vì vậy, kinh Nguyên thủy nói rằng Phật dạy các Tỳ-kheo thành tựu Bát Chánh đạo, tức hoàn tất 37 Trợ đạo phẩm, bấy giờ đứng trên lập trường Bát Chánh đạo giáo hóa chúng sanh sẽ không trở ngại.

Và đỉnh cao của Bát Chánh đạo là kinh Bát-nhã, tức qua thời kỳ thứ ba theo ngài Thiên Thai là Bát-nhã thể hiện giới, định, huệ. Huệ này do tu mà có.

Tăng Ni phải học và tu Bát Chánh đạo, trước nhất bề ngoài quan trọng cần thực hiện là bốn oai nghi. Và Tỳ-kheo phải thường sống trong chánh định, tức do tâm ổn định thì tướng bên ngoài mới trang nghiêm. Nhưng đạt được chánh niệm, tâm hoàn toàn vắng lặng thì vào định mới có chánh định. Nghĩ lung tung mà vô Thiền là tà định.

Sở đắc đầu tiên của người tu Thiền là không bị xã hội và thiên nhiên chi phối, không biết đói khát nóng lạnh. Tôi gặp một thiền sư nói rằng con người có cơ thể kỳ diệu, phải nuôi lớn điều kỳ diệu đó để thành Phật, thành Thánh; đừng phá hỏng lực kỳ diệu này mà trở thành tàn phế.

Tôi thấy nhận xét này rất đúng, vì Phật dạy rằng các loài hữu tình như súc vật, hay quỷ thần không có cơ thể kỳ diệu, nói theo ngày nay là chúng không có cấu trúc cơ thể và hệ thần kinh đặc biệt như chúng ta, nên không tu thành Phật được.

Theo thiền sư này, trời lạnh thì tế bào da của chúng ta có khả năng tự đóng kín lỗ chân lông để bảo vệ sức nóng trong cơ thể. Vị này áp dụng Thiền, có thể nhịn đói cả tuần, hay cả tháng, cho thấy cơ thể có khả năng kỳ diệu, tự điều tiết để không sanh bệnh. Nhưng con người đánh mất lực kỳ diệu, vì cơ thể chưa cần, lại tìm ăn cho dư thừa. Thừa đạm thì bị thấp khớp, hay thừa chất béo, chất bột, chất đường… gây ra bệnh, vì nghiệp ăn, lúc nào cũng nghĩ đến ăn. Tôi có người bạn ăn đến béo phì, bụng to, phải đi bác sĩ quanh năm.

Nói tới chánh định, phải biết kết hợp chánh định của A-la-hán với Vô lượng nghĩa xứ định trong kinh Pháp hoa, hoặc lấy Thủ lăng nghiêm tam muội để đối chiếu với chánh định.

Chánh định của A-la-hán mới diệt được kiến hoặc và tư hoặc, tức không bị tình cảm chi phối, không bị xã hội và thiên nhiên chi phối. Trên bước đường tu học, một số người cố nhồi nhét nhiều dữ kiện làm cho cái đầu muốn vỡ ra, như vậy là hỏng. Giai đoạn một, phải học, nhưng học xong, phải xả. Riêng tôi, học tất cả kinh Nguyên thủy cho đến kinh Đại thừa, không bỏ sót kinh nào; nhưng thực tập pháp tu, tôi xả lần, cho đến giảng kinh, tôi không cần tư liệu gì cả.

Chánh định của Bồ-tát là phá được trần sa hoặc. A-la-hán phá kiến hoặc là sai lầm về nhận thức theo xã hội. Không tu, cứ nói rằng lịch sử như thế này, xã hội như thế này… và khi nghe nói khác, liền bực tức cho rằng người ta sai. Đây là bệnh của người học nhiều quá, ôm chặt một mớ kiến thức xã hội, nhưng không dùng vô đâu được.

Tu hành, chúng ta phải phá bỏ kiến hoặc là phá bỏ kiến thức xã hội và phá bỏ cả kiến thức về giáo pháp. Học đủ, nhưng tu phải xả bỏ. Trước kia, tôi gặp một thiền sư rất đặc biệt. Ông có một tủ sách quý, tôi đến hỏi về kinh Duy ma, thì ông lấy cuốn kinh Duy ma xé, hỏi kinh Hoa nghiêm thì ông xé kinh Hoa nghiêm, hỏi đến đâu, ông xé đến đó. Tôi nói vậy, anh em chưa đắc Thiền, nhớ đừng xé kinh, bắt chước không được.

Ngày nay tu hành phải thường xuyên kiểm tra cuộc sống mình có thực đứng ở Bát Chánh đạo hay không. Đứng ở Bát Chánh đạo, mỗi thầy đi một hướng, vì Bồ-tát đa hạnh, mỗi thầy có một hạnh. Kinh Nguyên thủy ghi rằng đắc La-hán, mỗi người mới đi một hướng.

Và kinh Đại thừa khai thác mảng này, mỗi người đi một hướng khiến chúng ta nghĩ là không đi chung, nhưng người chưa đắc La-hán thuộc hàng tăng thượng mạn Tỳ-kheo đi một hướng khác nhau, rồi bị nạn, bị chết. Từ đó, Phật dạy rằng hai thầy phải đi chung.

Lúc trước Phật bảo mỗi người đi một hướng, nay lại bảo phải đi chung. Điều này cho thấy rõ Phật thuyết pháp phương tiện không giống nhau, cho nên chúng ta cố chấp là sai.

Và mỗi thầy đi một hướng còn có nghĩa thứ hai quan trọng là Tỳ-kheo đắc La-hán thấy nhân duyên, nên không đi chung, vì phải tìm người có duyên để giáo hóa. Thí dụ, Mã Thắng đi đến Vương Xá thành, vì Ngài biết mình có duyên với Xá Lợi Phất, nên âm thầm đi đến đó khất thực cho Xá Lợi Phất trông thấy, theo tu.

Đắc A-la-hán, có trí tuệ, thấy nhân duyên sanh thì đi theo nhân duyên này. Trong tám cửa bát quái, đi vô cửa sanh thì sanh, đi vô cửa tử, nhưng không nghĩ đến chết, mà chỉ nghĩ đến quyền lợi, thì vô đây phải chết. Cửa tử là chỗ có người thù nghịch, đút đầu vô làm sao sống nổi.

Phật đến thôn Ưu Lầu Tần Loa độ ba anh em Ca Diếp thành A-la-hán. Vì Phật biết rõ nhân duyên của Ngài với những người ngoại đạo này. Thứ hai là Phật cũng biết sự bế tắc trong việc tu hành của họ. Chúng ta không biết hai điều này, bắt chước Phật vô làng ngoại đạo là ta đến với người thù, tất nhiên không thể sống được. Và nhu cầu của họ cũng khác, ta không thể đáp ứng là hỏng việc. Nói cách khác, cho cái họ cần, đừng cho cái chúng ta có.

Vì vậy, nguyện thứ nhất của Phật Dược Sư là hào quang của Ngài chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới, nghĩa là muốn giáo hóa chúng sanh, phải có hào quang, tức trí tuệ để thấy tâm tư, nguyện vọng của chúng sanh; không thấy như vậy, làm sao giáo hóa.

Kinh Nguyên thủy cũng dạy rằng đối với người bị trúng mũi tên độc, phải lo rút mũi tên ra và băng bó vết thương; những điều cao siêu khác không cần thiết.

Và nguyện thứ 11 của Phật Dược Sư, nếu có người nào nghèo cùng đói khát vì cầu thức ăn mà tạo nghiệp ác, thì Ngài cho họ có đủ vật thực và dạy pháp Phật khiến cho họ được Vô thượng Bồ-đề.

Bảo họ đừng làm ác, phải cho thức ăn, họ mới không làm ác nữa. Có trí tuệ, chúng ta cho thức ăn trước, dạy Phật pháp sau.

Mỗi người đi một hướng để hành đạo Bồ-tát, nhưng trăm sông đều đổ về biển cả. Tu hành các pháp môn không giống nhau, nhưng thành Phật là một. Đó là kiến giải của Đại thừa, phá trần sa hoặc, nhìn thẳng vào nghiệp của chúng sanh và thấy nhân duyên độ được chúng sanh, chắc chắn giúp họ an vui, giải thoát.

Kinh Nguyên thủy nhìn kinh Đại thừa qua kinh Pháp hoa, lấy đỉnh cao là Vô lượng nghĩa xứ tam muội. Nhập định này sẽ tác động mọi người khát ngưỡng Chánh pháp. Trở về thực tế, khi các thầy thuyết pháp, họ chán, không muốn nghe. Tôi khuyên các thầy không thuyết pháp nữa, mà nên nhập định. Nếu không nhập định được, thì nhập thất tụng kinh, lạy Phật, suy nghĩ về bốn oai nghi của mình, suy nghĩ xem việc làm của mình có còn ở trong Bát Chánh đạo hay không.

Kinh Vô lượng nghĩa là một đời Phật thuyết pháp, từ người nghèo nhất cho đến người cao sang và cả chư Thiên, Phật đều trải lòng từ đến tất cả muôn loài mà kinh Đại thừa diễn tả là Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ định. Và trời mưa hoa Mạn-đà-la, Mạn-thù-sa, tiến xa hơn, thấy bạch hào tướng của Phật chiếu đến phương Đông, nương theo ánh quang đó, hội chúng thấy diễn tiến từ địa ngục A-tỳ đến Trời Sắc Cứu Cánh. Chỉ một câu như vậy của kinh đã thể hiện đạo lực sống động.

Nói cách khác, sau 49 năm Phật thuyết pháp xong, Ngài Niết-bàn, không nói nữa. Người người mới ôn lại lời Phật dạy, hình thành các kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa, Kim Cang thừa. Mỗi người suy nghĩ một cách và diễn tả khác nhau, để tìm an lạc cho mình và mang an lạc cho người.

Kinh Nguyên thủy nói rằng những gì Phật cần nói, Ngài đã nói, cho nên kinh Nguyên thủy chỉ suy nghĩ và căn cứ vào những gì Phật đã nói.

Trong khi kinh Đại thừa diễn tả là nương ánh quang Phật, tức nương trí tuệ Phật, nghĩa là kinh Đại thừa suy nghiệm về tu chứng của Phật, về những gì Phật chưa nói, để có được cái thấy chính xác rằng chúng sanh nghĩ gì, cần gì, có khả năng gì mà theo đó đáp ứng, thể hiện yếu nghĩa tùy duyên. Điều này thể hiện rằng hành giả Đại thừa đã triển khai từ kinh Nguyên thủy những yếu nghĩa cốt lõi mà Phật muốn nói qua cánh cửa Vô lượng nghĩa đi vào bộ kinh cao tột là kinh Pháp hoa.

PHẦN 4: TỪ KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA NHÌN VỀ KINH NGUYÊN THỦY

Tất cả giáo lý Phật không nằm ngoài ba việc chính yếu là đạo đức, trí tuệ và làm lợi ích cho cuộc đời và đã được ghi rõ trong kinh Vô lượng nghĩa; nói cách khác, 84.000 pháp môn tu của Phật đều quy về một. Kinh Hoa nghiêm triển khai yếu lý này, nói rằng một là tất cả và tất cả là một.

Một là tất cả và "một” được các kinh điển Đại thừa diễn tả là bất biến để đáp ứng vạn biến là sai biệt, hay "tất cả”. Thực hiện yếu lý này trong cuộc sống, người có trí sống ở hoàn cảnh nào cũng được, còn người cố chấp phải thiệt thân.

Như phần trên đã trình bày, Hòa thượng Um Sum nói với tôi rằng ngài tu theo Phật giáo Nguyên thủy, nhưng tin Đại thừa. Vì vậy, khi Pôn Pốt nắm quyền, ngài biết họ tiêu diệt đạo Phật, giết hết tu sĩ, nên ngài không mặc áo tu và đợi đến khi Phật giáo Việt Nam phục hồi Phật giáo Campuchia, ngài xin thọ giới lại. Rõ ràng người có trí tuệ mới vượt qua được tất cả chướng nạn, người không có trí tuệ thì khó giữ được mạng sống.

Phật giáo Ấn Độ bị tiêu diệt vì cố chấp rằng thà chết chứ không phạm giới, bằng cách ngồi yên cho Hồi giáo giết. Chỉ có 200 lính Hồi giáo mà chém chết hai vạn tu sĩ Phật giáo, thật là cách ứng xử quá chua xót.

Phải qua cánh cửa Vô lượng nghĩa trước, cho nên trước khi Phật nói Pháp hoa, Ngài nói kinh Vô lượng nghĩa, mà kinh Vô lượng nghĩa là Nhứt thừa kinh, tức tất cả các kinh Phật nói trong một đời là phương tiện, nhưng không phải chỉ nói thôi, mà phải tam chuyển pháp luân, nghĩa là Phật nói Tứ Thánh đế ba lần.

Muốn tu, quý vị phải học Tứ Thánh đế trước, là chuyển pháp luân lần thứ nhất, Phật nói đây là khổ và nguyên nhân của khổ, đây là giải thoát và con đường giải thoát.

Chúng ta phải phá thân phiền não, nghiệp chướng, trần lao thì Pháp thân hiện ra, bằng cách sử dụng Đạo đế. Phật đã dạy rõ như vậy, nhưng chúng ta chỉ học lý thuyết suông, không thực hành Đạo đế trong cuộc đời tu của mình, làm sao được giải thoát. Và tệ hơn nữa, muốn được mau, nên rớt qua ngoại đạo, tà giáo.

Theo Phật, phải thực tập Đạo đế mới giải thoát, để chứng được Diệt đế. Phật nói Ngài cũng nhờ tu Đạo đế mà thành tựu quả vị Phật, đó là lần chuyển pháp luân thứ hai.

Thành tựu quả vị Phật thì có gì khác. Có khác là trước khi chứng Diệt đế, năm anh em Kiều Trần Như coi thường Ngài là kẻ bỏ cuộc, không tu khổ hạnh nổi, nhưng Phật chứng Diệt đế, họ kính trọng Ngài, tin tưởng Ngài là bậc Thầy, xin Ngài độ họ. Kết quả của lần chuyển pháp luân thứ ba này, Phật dạy chúng ta phải thực tập, tu chứng Đạo đế, không phải nói suông Đạo đế.

Khi năm anh em Kiều Trần Như kính nể Phật, muốn học được như Phật thì Ngài mới nói. Học theo Phật, trên bước đường truyền giáo, chúng ta không nên nói với người không muốn nghe. Hòa thượng Trí Tịnh dạy tôi ý này rằng với người cầu pháp không tiếc thân mạng thì mới có pháp. Nói cách khác, tu hành đến cùng tột sự sống, gọi là sơn cùng thủy tận, tuyệt mạng tuyệt thể, không còn cách xoay xở thì Phật, Bồ-tát hiện ra. Tới chỗ này là ranh giới để chúng ta thành Phật, nhưng ít ai dám đến, mà thường quay lại.

Tạm ví như câu chuyện Tam Tạng đi thỉnh kinh, đến dòng sông thấy chiếc thuyền không đáy, Ngài không dám bước xuống. Tôn Ngộ Không liền xô Ngài té xuống chiếc thuyền này thì Ngài chứng Thánh quả, thấy thân tứ đại của Ngài trôi lềnh bềnh. Hòa thượng Thiện Hoa nói đây là tuyệt mạng tuyệt thể, tức đời sống của thân phiền não, nghiệp chướng, trần lao này hết rồi, vì đã trải qua 81 nạn yêu quái, chỉ cho kiến hoặc và tư hoặc chấm dứt. Những yêu quái này từ tâm chúng ta mà xuất hiện, nhưng đến đây thì chấm dứt thân ngũ uẩn, chân thân mới hiện ra.

Phật nói kinh Vô lượng nghĩa rồi nhập Vô lượng nghĩa xứ định. Có thể hiểu rằng kinh Vô lượng nghĩa là một hình thức biến dạng của kinh Nguyên thủy.

Thật vậy, kinh Vô lượng nghĩa đã diễn tả toàn bộ cuộc đời của Đức Phật, không có gì khác hơn. Tuy nhiên, cuộc đời của Phật nếu hiểu theo con người phàm phu thì thấy rằng Sĩ Đạt Ta đi tu, thành Phật, rồi đi khắp nơi giáo hóa chúng sanh trong 45 năm, hay 49 năm. Sau đó, Ngài nhập diệt dưới cây Sa-la. Người đời chỉ thấy Phật như thế thôi.

Nhưng theo cái nhìn của Nhị thừa và của Bồ-tát thấy Phật không phải chỉ tầm thường như thế. Vì Nhị thừa và Bồ-tát thấy được con người thật bên trong của Phật, mà ngày nay, chúng ta đi theo lộ trình của Phật, tất yếu cũng cần phát hiện được con người thật của Phật, để chúng ta thực tập theo.

Điều quan trọng là Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ Tam muội, không phải chỉ nói kinh Vô lượng nghĩa thôi. Nói kinh Vô lượng nghĩa không khó, nhập Vô lượng nghĩa xứ định thì không phải ai cũng làm được. Cũng như nói "bất biến” thì dễ, nhưng ứng được "vạn biến”, mấy ai làm được.

Nhập Vô lượng nghĩa xứ định nhằm chỉ phải thực tập mới biết được áo nghĩa của kinh. Hòa thượng Trí Tịnh nói rằng muốn biết thực chất của đạo, phải cạo đầu, ăn chay, niệm Phật, thiền định rồi biết. Còn biết theo hình thức thì muôn đời không vào cánh cửa đạo được đâu. Vì vậy, cả đời Hòa thượng thực tập lý này trong thiền thất và ai có nhân duyên, ngài mới nói, không phải ai ngài cũng nói, vì theo ngài, Phật pháp đâu phải cá ươn mà nài ép bán. Người ta cầu tìm, nhưng thấy họ không có duyên, chưa độ được, cũng phải tránh mặt.

Vì vậy, điều quan trọng là nhập Vô lượng nghĩa xứ Tam muội, nói đúng hơn là trong đạo Phật, quan trọng ở hai chữ Tam muội. Người tu khác nhau ở điểm có Tam muội hay không.

Thiên ma, ngoại đạo cũng có Tam muội, gọi là bùa chú. Tôi có người bạn ở trên núi chuyên luyện bùa. Ông này nhịn đói lâu ngày cũng không thấy đói. Người thầy cho ông lá bùa và câu thần chú. Ông vô hang động đọc thần chú và nhìn vào lá bùa, đến khi thấy bùa sáng lên là đắc rồi. Như vậy cũng là Tam muội do định, nhưng là tà định.

Tôi cũng có bạn là chánh khách, khi có việc khó khăn không giải quyết được, ông đóng cửa, không tiếp khách. Ngồi yên để tâm thật yên tĩnh, việc tự sáng ra, đây là thế gian định. Ý này cũng được Phật dạy chúng ta rằng tâm tán loạn thì không thấy chính xác, tâm định, tức tập trung sẽ thấy vấn đề sáng lên.

Trên bước đường tu, tôi thực tập pháp này trước, bằng cách nhìn chăm chú vào một vật để cho tâm tập trung. Về sau, tôi nhìn tượng Phật để tập trung. Và tiến xa hơn, tôi nhìn một ý tưởng trong kinh sách để tập trung, thì khi nghiên cứu một tác phẩm dài, không đủ thì giờ đọc hết, tôi đọc bằng tư tưởng, bằng tâm linh, chỉ đọc cái tên thôi. Thí dụ, tôi đọc lịch sử kinh Hoa nghiêm và đọc các nhà trước tác, biên dịch là tôi đã biết tổng quát, sau đó, tôi xếp kinh lại, ngồi tập trung vào những gì vừa đọc về lịch sử và các tác giả, tự nhiên lòng sáng ra. Còn học thuộc lòng thì sau dễ quên. Không học thuộc lòng, nhưng tập trung được, không bao giờ quên, đó là điều quan trọng mà tôi muốn chia sẻ với quý vị về cách học Phật.

Con đường vào đạo cần có tâm hồn tập trung mới lãnh hội được pháp chân thật. Chỉ nghe bằng tai thôi, không thể lãnh hội ý sâu sắc của Phật. Nói suông về kinh thì dễ, nhưng làm Hiền thánh rất khó.

Có nhiều định để thực tập, riêng kinh nghiệm của tôi khi thực tập là tôi tập trung vào các thoại đầu, vào một bộ sách, vào một tư tưởng. Do tập trung mà có cái nhìn sáng hơn và thấy đúng. Tập trung như vậy, tôi nhận ra ý nghĩa đầu tiên của kinh Pháp hoa nói là Triền Đà-la-ni, sẽ có trí tuệ, mới sử dụng được hiểu biết đúng đắn.

Vì vậy, Phật dạy rằng có trí tuệ thì giải được, không có trí tuệ vô lậu, tự buộc mình vào phiền não. Triền Đà-la-ni là huệ học do tập trung thì cái gì sáng ra trong đầu không bao giờ mất. Và trở về định Vô lượng nghĩa, Đức Phật đã thể hiện điều này.

Nhập được Vô lượng nghĩa xứ định rồi, sự vật đổi khác, kinh diễn tả là mưa hoa Mạn-đà-la, Mạn-thù-sa để cúng dường Phật và tứ chúng. Điều này cho thấy ý quan trọng rằng trước khi nói kinh Pháp hoa, phải có hai loại hoa này có tác dụng làm tâm đại chúng an tịnh và vui trong yên lặng, trong thiền định.

Học lý này, trước khi thuyết pháp, phải làm hội trường yên tĩnh, hội chúng thanh tịnh mới có pháp. Nghĩa là phải có con người an vui và giải thoát hết lòng cầu đạo mới lãnh hội được pháp chân thật. Không được như vậy, nói gì cũng thành tà pháp.

Nói kinh Vô lượng nghĩa thì phải nhập Vô lượng nghĩa xứ định, tức phải chuyển hóa mình trở thành người đạo đức, hiểu biết đúng đắn và làm lợi ích cho cuộc đời, người ta mới nghe theo.

Tóm lại, tiến tu theo lộ trình Phật dạy đúng như pháp, mở ra cho chúng ta tầm nhìn xuyên suốt từ Phật giáo Nguyên thủy sang Phật giáo Đại thừa và từ Đại thừa nhìn ngược lại Nguyên thủy cũng nhận thấy có sự thống nhất hoàn hảo. Đó chính là nền tảng kiên cố, bất hoại giúp cho mạng mạch Phật giáo trường tồn trải qua hơn 25 thế kỷ, mãi là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại xây dựng cuộc sống an lạc, hiểu biết, phát triển, hòa hợp.