cool hit counter

Kiến Thức Phật Pháp

Sống Đạo Đức, Trí Tuệ Và Làm Lợi Ích Cho Mọi Người

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

  

  Nhân buổi giảng hôm nay, tôi xin ghi nhận công đức của Ni trưởng Tịnh Nguyện. Ban đầu tổ chức khóa tu tại đây, Ni trưởng là người đầu tiên lên đây nấu ăn cho chư Tăng và Phật tử tham dự khóa tu. Hôm nay có thêm Ni trưởng Từ Nhẫn đảm nhận việc cúng dường cơm trưa cho quý vị. Hai vị Ni trưởng này đáng được biểu dương trong việc xây dựng Viện Phật học của chúng ta. Ngoài ra, tuần trước Hòa thượng Giác Toàn thuyết giảng và cầu nguyện cũng có chư Tăng và các Ni trưởng, Ni sư hệ phái Khất sĩ về đây rất đông để tham dự lễ cầu nguyện cho việc xây dựng Viện Phật học được sớm hoàn thành.

    Vừa rồi, tôi nghe Ni trưởng Từ Nhẫn than phiền rằng các tịnh xá của phái Khất sĩ không nhiều và Tăng Ni cũng không đông, nhưng có được sức mạnh đoàn kết, nên đã làm được nhiều việc lớn.

     Có điều làm tôi cảm động là sau hai thời thuyết pháp của tháng vừa qua, có một số Phật tử sống ở nước ngoài đã theo dõi công trình xây dựng Viện Phật học của chúng ta, nên các vị này đã phát tâm đóng góp, thật đáng trân trọng. Đó là một Phật tử ở Canada dành dụm được số tiền Nhà nước cấp dưỡng cho người già mà không dám tiêu xài, để gởi về cho chúng ta xây dựng; tuy số tiền không lớn, chỉ một ngàn đô Canada, nhưng cũng đáng quý. Một Phật tử khác gửi một ngàn euro và hai Phật tử ở Úc gởi 2.000 đô Úc. Sáng nay, trước khi tôi đi giảng, có một Phật tử tới nói con để dành tiền mua được một lượng vàng để dưỡng già, con nghe thầy xây dựng Viện Phật học, nên con đem cúng dường. Đó là những người có tấm lòng lớn đối với đạo. Tôi nghĩ nếu 80% dân chúng tin theo đạo Phật thì cùng chung sức chung lòng chẳng những chúng ta xây dựng được Viện Phật học này sớm, mà còn làm được nhiều việc quan trọng nữa.

     Hôm nay tôi thay mặt Ban Điều hành Viện Phật học xin trân trọng tinh thần đóng góp của quý vị cùng với lực cầu nguyện của đại chúng, chắc chắn chúng ta sẽ sớm hoàn thành ngôi trường này để có nơi tu học cho Tăng Ni đúng với danh nghĩa tu sĩ Phật giáo Đại thừa.

     Trong buổi gặp mặt này, tôi muốn trao đổi một số suy nghĩ về tinh thần Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại thừa từ Phật giáo Nguyên thủy mà phát triển lên, cho nên gọi là Đại thừa, tức đại chúng và đó cũng chính là tinh thần Phật dạy luôn vì số đông.

     Tiểu thừa kẹt chấp ngã, chấp pháp, chỉ sống riêng mình và coi pháp tu của mình là đúng, còn các pháp môn khác thì cho rằng không đúng, họ chỉ lo cho bản thân thôi, người khác không quan trọng. Đó là hiểu sai lầm về nghĩa Phật dạy chúng ta tu. Vì khi xuất gia học đạo, Phật khuyên chúng ta phải nên lo học và lo tu, học cho thành tài và tu cho thành đức thì về sau chúng ta mới giáo hóa chúng sanh được. Nói cách khác, trên bước đường tu, từ "Tiểu” tiến lên "Đại”, tức ban đầu chúng ta phải rèn luyện mình có năng lực thực sự, sau đó giáo hóa chúng sanh, làm cho người và mình cùng giải thoát; đó là mục tiêu của Đức Phật đề ra.

     Mình chưa giải thoát mà nghĩ làm cho người giải thoát là sai; nhưng mình được giải thoát rồi mà không làm cho người giải thoát cũng không đúng. Vì vậy, Phật dạy rằng người tự cho mình đã chứng quả vị La-hán, mà không tin kinh Pháp hoa, không hành Bồ-tát đạo thì không phải là A-la-hán, không phải đệ tử Phật mà là tăng thượng mạn. Thể hiện ý này, trở lại kinh Nguyên thủy, chúng ta thấy khi Đức Phật đạt quả vị Toàn giác, Ngài đến độ năm anh em Kiều Trần Như, dạy các vị này đắc La-hán thì Phật mới bảo mỗi người nên đi một phương hành đạo, nghĩa là được giải thoát rồi, phải nghĩ đến độ chúng sanh, làm cho họ cũng được giải thoát. Như vậy, Phật giáo Nguyên thủy không khác Phật giáo Đại thừa.

     Tuy nhiên, nếu chúng ta chờ đắc La-hán mới độ chúng sanh thì e rằng không kịp, vì phải trải qua nhiều kiếp tu hành mới chứng được quả vị La-hán. Vì vậy, Phật giáo Đại thừa dạy rằng Bồ-tát mới phát tâm nghĩa là có niềm tin Phật vững vàng thì chúng ta vừa tiến tu vừa cảm hóa người, gọi là tự hành hóa tha. Điển hình như các Phật tử tại gia phát tâm đi chùa, lễ Phật, bố thí, cúng dường, họ tự làm như vậy và cũng làm gương cho người khác thấy bắt chước tu theo. Đó là ý nghĩa của tự hành hóa tha, bề trong lo đoạn phiền não của bản thân, bề ngoài làm gương cho người tu theo và đó cũng là hành Bồ-tát đạo, chúng ta chưa phải là Bồ-tát thực, nhưng là Bồ-tát quyền thừa, hay Bồ-tát mới phát tâm, hoặc Bồ-tát quyến thuộc. Như vậy, tự mình làm không được, nhưng nương theo công đức của Phật, hay nương theo các Bồ-tát lớn, mình cũng làm được.

     Theo kinh Hoa nghiêm, Bồ-tát sơ phát tâm phải trải qua mười giai đoạn để giữ gìn tín tâm của chúng ta được kiên cố, dù hoàn cảnh thế nào, lòng chúng ta không thay đổi. Có quyết tâm cao như vậy sẽ được Phật hộ niệm và Hộ pháp Long thiên bảo vệ, thì từng bước chúng ta vượt qua khó khăn và làm được việc lớn. Riêng bản thân tôi không giỏi, nhưng niềm tin của tôi đối với Phật rất vững mạnh, nên nhờ Phật che chở, hộ niệm và Hộ pháp Long thiên hỗ trợ, tôi đã vượt qua nhiều trở ngại, hiểm nguy và làm được một số việc quan trọng cho Giáo hội cho đến ngày nay; đó là điều mà tôi muốn nhắc nhở quý vị.

     Nếu chúng ta trải qua ba giai đoạn của tam Hiền theo kinh Hoa nghiêm là thập tín, thập trụ và thập hạnh, ở địa vị cao nhất của hàng tam Hiền chưa phải là Thánh, gọi là Bồ-tát đang tu thập hồi hướng. Quả vị này của Bồ-tát nếu tính theo Thanh văn thì ngang hàng với quả vị A-na-hàm, nghĩa là các vị này an trụ pháp Không, tức là làm được bao nhiêu việc ở thế gian, hành giả cũng không nghĩ tới, không nhắc tới, mà chỉ quan tâm đến việc cần làm, đến người đáng giúp. "Không” nghĩa là không cố chấp. Một số người luôn kể lể việc mình đã làm, gọi là mắc bệnh thành tích. Bệnh này ở ngoài đời còn bị ghét, huống chi là đạo. Họ thường kể rằng họ đã cúng chùa bao nhiêu, làm việc này, việc nọ, nhưng nhìn thấy họ đầy nghiệp chướng, phiền não là họ đã phạm tội phá pháp, một tội rất nặng.

     Sáng nay, Phật tử gởi cúng một lượng vàng để xây Viện Phật học, nói rằng thầy đừng ghi tên con, con rất ngại và các Phật tử khác cũng dặn không ghi danh. Tôi đã giao phiếu xây dựng năm trăm triệu và một lượng vàng, hầu hết ẩn danh. Đó là người hành Bồ-tát đạo thực sự sợ người khác biết mình cúng dường, công quả, nhưng cuộc đời mình không ra sao làm người khác thoái tâm.

     Điều quan trọng trên bước đường tu, sanh công đức là tâm mình lúc nào cũng hoan hỷ, an lạc. Đối với việc không tốt xảy ra, mình dễ tha thứ, nghĩa là giống tâm khoan dung của Đức Di Lặc, nên lúc nào mình cũng an vui. Nhìn người là nhìn việc tốt của họ theo hạnh của Bồ-tát Địa Tạng, không nhìn điều xấu của họ. Nhờ thấy việc tốt, tâm mình mới cởi mở, an lạc.

     Phước thứ hai là dù cực khổ, hy sinh, không kể gian lao, khó nhọc, nhưng Phật độ chúng ta có sức khỏe tốt để làm Phật sự. Hai Ni trưởng trước mặt tôi có tuổi lớn hơn tôi, tôi bảo nhắc ghế cho hai vị ngồi, nhưng không chịu và bảo để ngồi cùng đại chúng, đó là hạnh đáng trân trọng mà các Phật tử nên học theo.

     Trên bước đường hành Bồ-tát đạo của chúng ta, nếu đi từ Thanh văn, đến Duyên giác và Bồ-tát thì kinh Hoa nghiêm dạy đầu tiên phải học hạnh Thanh văn là học đạo đức, học Duyên giác là học trí tuệ. Đạo đức và trí tuệ là hai điều quan trọng trong cuộc đời tu của chúng ta. Trên bước đường cầu đạo, Thiện Tài được khuyên nên học đạo với Đức Vân Tỳ-kheo. Vì vậy, chúng ta muốn học đạo giải thoát, nên học đức hạnh trước; không có đức hạnh mà giỏi cũng chuốc họa vào thân, làm cho người ghét. Học với Đức Vân Tỳ-kheo là học gì?

     Đức Vân đi kinh hành trên mây, không đi trên mặt đất, nghĩa là người đức hạnh có tâm hồn nhẹ nhàng, thanh thoát. Vì vậy, đầu tiên quý vị học đạo theo Thiện Tài khuyên chúng ta sống trong xã hội, trong gia đình, chúng ta không làm mất lòng ai; ví như mây bay qua núi, nhưng không làm trở ngại núi và núi cũng không cản mây.

     Hành Bồ-tát đạo, học với Đức Vân như vậy là học hạnh Thanh văn. Kế tiếp, Đức Vân khuyên Thiện Tài sau khi rèn luyện bản thân thành người đức hạnh thì cần phát triển trí tuệ, nên xuống học với Hải Vân Tỳ-kheo ở bờ biển sanh tử. Đức Vân ở trên mây, không đụng ai, nhưng từ giải thoát trên mây mà đi xuống gần cuộc đời là ở trên bờ biển sanh tử, chứ chưa dám lặn xuống sanh tử.

     Trên bờ biển sanh tử quán sát chúng sanh ở trong sanh tử thấy họ khổ sở, phiền muộn đủ thứ cách trên cuộc đời, đó là điều quan trọng mà chúng ta phải học. Hai vị Ni trưởng ở trước mặt tôi đây chẳng những quán sát sanh tử mà đi thẳng vào sanh tử. Ni trưởng Phước Hải tôi biết khi còn là học Tăng, đã cưu mang giúp đỡ nhiều người khó khăn, dám làm việc khó. Còn Ni trưởng Từ Nhẫn cũng đã làm công tác từ thiện cho báo Giác Ngộ như cứu trợ người bị thiên tai, hoặc hỗ trợ việc mổ mắt, mổ tim, vá môi… lăn xả vào cuộc đời không từ khó nhọc. Tôi chỉ đứng trên bờ biển sanh tử mà quán sát, thấy hai vị Ni trưởng này dấn thân vào đời trải qua mấy chục năm mà còn nổi trên mặt nước là điều đáng mừng, đáng quý; vì thuyền từ của các vị đi vào biển khổ mà không bị đá ngầm làm chìm tàu. Phải khéo lái con thuyền Bát-nhã mới tránh được các tảng đá ngầm. Đá ngầm là gì? Đó là ác ma. Cuộc đời này muôn mặt, điển hình là ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh gặp tất cả yêu tinh, khi thì nó đóng vai đứa trẻ đáng thương. Thầy Huyền Trang thấy vậy động lòng trắc ẩn, mới bảo Tôn Ngộ Không cõng giùm. Cõng yêu tinh Hồng Hài Nhi thì Tề Thiên bị sức mạnh của nó đè xuống và bắt mất thầy Huyền Trang.

     Tôi thấy hai vị Ni trưởng này còn làm đạo được đến ngày nay, không bị cõng đá ngầm là điều đáng mừng. Những cục đá ngầm bề ngoài thấy lương thiện, tốt đẹp, dễ thương, nhưng trong ruột gan nó chứa đầy độc tố. Chúng ta sơ hở một chút là cuộc đời tu của chúng ta bị mất trắng, rất đáng sợ.

     Thuyền từ của chúng ta tránh được tảng đá ngầm xong, lại gặp cuồng phong là gió nghiệp. Gió nghiệp từ đâu nó ùn ùn nổi dậy? Từ trong lòng chúng ta nổi dậy. Quý vị kiểm nghiệm sẽ nhận ra điều này. Tự nhiên trong lòng chúng ta đang tốt, đang hy sinh làm đạo, vụt thay đổi hoàn toàn theo hướng xấu khiến tiêu tan công đức. Vì vậy, không có sức kham nhẫn thì không chịu được. Đó là gió nghiệp, tức nghiệp của chúng ta còn, nên nghiệp mới khởi lên. Những việc đáng giận đáng buồn từ đâu tới? Vì mình tin họ, giúp đỡ họ, mà họ lại hại mình. Cơn giận nhận chìm chúng ta xuống gọi là gặp trận cuồng phong.

     Và trong biển sanh tử còn có nhiều ma chướng là các loài thủy quái, nó nuốt chúng ta vô bụng thì làm sao ra được; nếu không thoát ra được thì trở thành thức ăn của chúng. Hai vị Ni trưởng này gan cùng mình, tôi cũng chưa dám lăn xả vào biển sanh tử.

     Đương nhiên gặp hoàn cảnh khó khăn, chúng ta còn buồn giận, nhưng chúng ta thường suy nghĩ rằng các vị Bồ-tát còn có nhiều gian khổ hơn, nguy hiểm hơn mà các ngài còn làm được. Ta gặp khó chừng này thì thấm vào đâu. Và ta nhớ đến hạnh nguyện của Bồ-tát Quan Âm, ngài nguyện ở Ta-bà vào biển khổ, dù Phật Di Đà giao Cực lạc cho ngài làm giáo chủ, nhưng ngài cũng không làm. Ngài muốn ở Ta-bà vì ở đây còn có nhiều việc cần ngài làm.

     Trên bước đường tu, tụng kinh Pháp hoa, tôi khởi ý niệm ở Ta-bà hành đạo, nên từ nguyện của Bồ-tát Quan Âm, tôi chuyển đổi thành: "Cõi Ta-bà thị hiện độ sanh. Thọ trì đọc tụng chơn kinh. Quyết lòng tế độ chúng sanh muôn đời”, nghĩa là tôi nguyện ở Ta-bà, không về Cực lạc. Có người không hiểu ý tôi, nói rằng tôi bác pháp môn Tịnh độ. Tôi không bác pháp môn Tịnh độ. Ai muốn về Tịnh độ để nghỉ ngơi, để được thân cận Phật và Bồ-tát cho việc tiến tu đạo hạnh thì về. Ai ở Ta-bà làm được công đức thì ở. Còn gan hơn nữa như Bồ-tát Quan Âm vào địa phủ cứu vớt chúng sanh muôn loài, đó là hành Bồ-tát đạo.

     Ở Hiền vị, chúng ta thân cận Bồ-tát lớn, thấy các ngài làm được thì ta cũng vững niềm tin, phát tâm làm theo. Thật vậy, trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở nước ta, hoàn cảnh ở thời các ngài khó gấp ngàn lần chúng ta, mà các vị Hòa thượng còn gầy dựng được Phật giáo tạo thành cơ đồ vững chắc cho chúng ta ngày nay tiếp tục. Bây giờ, chúng ta có sẵn chùa, có sẵn trường, chỉ cần phát huy mà còn than khó, không làm được là sao. Nhìn việc hành đạo của các vị đi trước để chúng ta tiến lên và nhìn xa hơn vào thế giới siêu hình, thấy các Bồ-tát lớn nhiều đến tám vạn Bồ-tát đã từng cứu vớt vô số chúng sanh thoát khỏi khổ não. Các ngài là những tấm gương sáng cho chúng ta học theo, làm theo. Vì vậy, gặp việc khó, tôi quyết tâm làm, vì tôi nghĩ bên cạnh tôi có tám vạn Bồ-tát ủng hộ, nên làm được.

     Trở lại kinh Vô lượng nghĩa, Phật nói người tu Pháp hoa làm được việc khó làm, vì họ có Bồ-tát quyến thuộc mười phương hợp tác. Muốn được như vậy, tấm lòng chúng ta phải tương ưng với tấm lòng của Bồ-tát thì các ngài ủng hộ chúng ta, gọi là đồng hạnh đồng nguyện. Hai Ni trưởng này làm được nhiều việc, vì có tấm lòng thương người, nên chiêu cảm những người có tấm lòng như vậy tìm tới để cùng làm.

     Riêng tôi quyết tâm xây dựng Viện Phật học, từ đó Phật tử không giàu, nhưng cúng một lượng vàng, vì ông cũng muốn đào tạo Tăng tài, làm cho Phật giáo cửu trụ. Tôi cũng muốn như vậy là tâm hồn lớn gặp nhau. Thiết nghĩ trên nhân gian có bao nhiêu người tốt hợp tác với chúng ta nếu chúng ta có tấm lòng tốt và trong thế giới vô hình cũng vậy, có bao nhiêu Bồ-tát có hạnh nguyện cứu giúp chúng sanh, các ngài cũng sẽ hộ niệm cho chúng ta nếu chúng ta có hạnh nguyện tương ưng với các ngài. Trên tinh thần đồng hạnh đồng nguyện, được sự hỗ trợ của các Bồ-tát siêu hình và các thiện tri thức trên cuộc đời, chắc chắn chúng ta làm được việc lớn.

     Tôi tâm đắc điều Phật dạy trong kinh Vô lượng nghĩa rằng chưa độ được mình nhưng độ được người, nói cách khác, còn ở trong sanh tử nhưng đưa người ra khỏi sanh tử. Đó là đạo lực của hành giả Pháp hoa, vì đã lấy lực Phật làm lực của mình, lấy nguyện của Bồ-tát làm nguyện của mình. Vì vậy, trí tuệ của Phật và hạnh Bồ-tát hợp thành sức mạnh đưa người ra khỏi sanh tử. Thí dụ cho dễ hiểu, có người đến đây nghe pháp và nương theo giáo pháp tu hành, thì mãn duyên ở Ta-bà, họ về Tịnh độ. Trong khi tôi còn ở Ta-bà, nhưng tạo điều kiện cho họ về Cực lạc. Điều này chính là tu Pháp hoa, là cứu người, đưa người đi về Tịnh độ trước, còn ta từ từ tính sau; thể hiện yếu nghĩa rằng hành giả còn trong sanh tử, nhưng có khả năng đưa người về thế giới an lạc được.

     Nói về kinh Vô lượng nghĩa, kinh Pháp hoachỉ nhắc một câu là trước khi Phật nói Pháp hoa, Ngài nói kinh Vô lượng nghĩa để dạy các Bồ-tát và nói kinh này xong, Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội. Chỉ một câu như vậy, nhưng là một đề tài lớn mà cả cuộc đời tu của chúng ta phải suy nghiệm. Nếu chúng ta chỉ đọc suông thì không được gì, cần suy nghĩ kinh Vô lượng nghĩa Phật nói là gì.

     Kinh Vô lượng nghĩa có ba phẩm, phẩm một nói về đạo đức, phẩm hai nói về trí tuệ và phẩm ba nói đến việc làm lợi ích cho chúng hữu tình. Ba phẩm này hàm chứa tất cả các pháp của chư Phật ba đời mười phương. Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai đều thuyết kinh Vô lượng nghĩa cũng nhằm đào tạo mọi người trở thành người đạo đức, có trí tuệ và làm lợi lạc cho nhân loại.

     Trong xã hội ngày nay, đạo đức xuống thấp gây ra nhiều việc rất nguy hiểm cho mọi người. Vì vậy, tu Pháp hoa phải rèn luyện mình có nếp sống đạo đức và cảm hóa được người, giúp họ trở thành người đạo đức; đó là việc cần làm. Chư Phật quá khứ cho đến chư Phật vị lai cũng làm như thế, vì xã hội không có đạo đức là xã hội đi xuống.

     Học kinh Pháp hoa không phải là tụng suông hàng ngày, nhưng thể hiện được yếu nghĩa kinh để phát huy đạo đức của mình và cảm hóa người trở thành đạo đức. Tụng kinh Pháp hoa, chúng ta nghe dạy rằng nơi nào có kinh Pháp hoa, thì cách xa nơi đó đến năm trăm do-tuần cũng được an lạc, vì ở nơi đó có người đạo đức và họ cảm hóa được người xung quanh cùng sống đạo đức; được như vậy, tất nhiên xã hội thái bình, nhà không đóng cửa cũng không bị mất trộm, của đánh rơi cũng không mất.

     Như vậy, tu Pháp hoa khởi đầu bằng đạo đức và phẩm thứ hai dạy chúng ta phát huy trí tuệ đến mức độ cao; vì có đạo đức mà không có trí tuệ thì không thể nhận ra được việc tốt xấu của cuộc đời, không thể biết được người đáng giúp, việc không nên làm. Thí dụ như ngài Huyền Trang có đạo đức, nhưng nếu không nhờ mắt thần của Tề Thiên thì đã bị yêu tinh bắt mất, không thể tới Tây phương. Mắt trí tuệ của Tề Thiên có được là nhờ tôi luyện trong lò bát quái, nghĩa là ông chịu sự nung đốt trong sanh tử cho đến con mắt của ông thành vàng, nên nhìn yêu tinh bày trò kiểu nào ông cũng biết.

     Phẩm thứ hai của kinh Vô lượng nghĩa dạy rằng tu theo Phật phải có trí tuệ, phải nhìn thấy tâm can của đối tượng. Trên bước đường tu, khi quý vị tu đúng pháp, lắng lòng yên tĩnh sẽ thấy chính xác, tai nghe tiếng ngon ngọt như rót mật vào tim, nhưng mở mắt Tề Thiên thì thấy trong tim họ có con mãng xà là chúng ta phải thấy thấu tâm của họ mưu đồ cái gì; nếu không có trí tuệ không thấy đúng, chúng ta dễ bị lợi dụng và Phật giáo sẽ bị suy yếu.

     Phẩm thứ hai chỉ nói về trí tuệ, điều này tiêu biểu cho cái gì. Nếu chúng ta học đạo sẽ nhận thấy phẩm đạo đức được nói đến trong bốn bộ kinh A-hàm cũng dạy con người phát huy đạo đức. Thứ hai là nói đến trí tuệ thể hiện trong hai mươi hai năm Phật nói kinh Bát-nhã để mở tầm nhìn chúng ta rộng ra trong xã hội, trong ba đời các Đức Phật. Vì vậy, kinh A-hàmPhật nói mười hai năm, nhưng kinh Bát-nhã Phật nói đến hai mươi hai năm, nghĩa là học đạo đức ngắn hơn, nhưng học trí tuệ phải lâu dài, vì cần có sự đụng chạm với cuộc đời mới thấy đúng.

     Học đạo đức giống như người học ở trường lớp, học ở sách vở. Học trí tuệ phát sinh từ sự cọ xát với cuộc đời thì trường không dạy được, vì những gì xảy ra trong cuộc đời ta luôn luôn mới, chúng ta phải có trí tuệ để bắt kịp. Vì vậy, người kẹt sách vở chắc chắn không làm được.

     Hòa thượng Trí Tịnh lúc còn sanh tiền, ngài nhắc tôi điều quan trọng là người tu phải có trực giác, tức không cần suy nghĩ, nhưng phải nhìn bằng trực giác để nhận ra được tiêu biểu bằng con mắt của Tề Thiên.

     Sách ghi như vậy, nhưng thực tế có hay không. Thí dụ sách không ghi xây dựng Viện Phật học của mình, không ghi phải tổ chức khóa tu nửa tháng một lần. Tất cả những gì chúng ta làm không có trong sách, nhưng trực giác cho chúng ta thấy phải làm. Giáo hội giao cho tôi làm Viện trưởng Viện Phật học, không bảo tôi xây dựng trường, nhưng tôi có trực giác rằng mình phải xây dựng ngôi trường này. Xưa kia, khu đất này nằm trong vành đai trắng, Mỹ thả bom, người chết vô số. Vì vậy, đầu tiên vào đây, chúng ta phải nghĩ đến việc âm siêu dương thới, tức chúng ta phải tụng kinh siêu độ cho các vong linh. Tăng Ni, Phật tử cần về đây tụng kinh để hóa giải nỗi niềm u uất của họ. Và khi tôi làm được như vậy, tôi cảm thấy nhẹ nhàng. Việc chúng ta cầu nguyện ảnh hưởng tốt đến người đã khuất khiến họ kêu con cháu của họ đóng góp vô việc xây dựng trường.

     Trên bước đường tu, theo kinh nghiệm, tôi thấy phải có niềm tin. Trực giác cho chúng ta thấy phải làm như thế, còn dùng hiểu biết của con người thì các thầy thường bàn ra, nói rằng dự án xây dựng ngôi trường này tính đến mấy ngàn tỷ thì lấy tiền đâu mà làm. Lúc mới nghe nói phải có 17 tỷ để đền bù cho dân dời đi, các thầy cũng nói không làm được, nhưng nay đã được. Và đến việc xây dựng trường cũng nói không thể làm, nhưng bây giờ hai tòa nhà cho Tăng Ni học đang được xây dựng. Sư bà Tịnh Nguyện ban đầu chắc cũng nghĩ rằng nấu cơm cho quý thầy và Phật tử một lần rồi coi tình hình ra sao, nhưng nay đã thấy việc xây dựng được phát triển khá tốt.

     Có thể nói trên bước đường hành đạo, chúng ta chỉ có niềm tin cho đến khi trụ được Bát-nhã là phải trải qua giai đoạn dài tu hành mới phát triển được. Thật vậy, năm nay tôi 77 tuổi mới có hiểu biết như thế này, mặc dù lúc 30 tuổi tốt nghiệp tiến sĩ nhưng đâu có hiểu biết như bây giờ. Ở 70 tuổi, tôi xây dựng Viện Phật học, trí giác thăng hoa. Học trường lớp và tốt nghiệp thì nhanh, nhưng thực sự có được trí tuệ thì phải trải qua thời gian dài. Nhưng đến phẩm thứ ba mà kinh Vô lượng nghĩa đòi hỏi là phải làm lợi ích cho chúng sanh.

     Vì vậy, điều thứ nhất trong phẩm này là những người chưa phát tâm thì ta phải làm cho họ phát tâm. Họ chưa an phải làm cho họ an. Trên bước đường tu, ai có kinh nghiệm mới biết làm cho người an bằng vô số phương tiện. Có Phật tử đến thưa rằng con thấy bất an. Tôi để tay lên đầu họ và nói an rồi. Phật tử đó trở lại cũng thưa rằng con an rồi. Quý vị bắt chước tôi làm như vậy được không. Khó là ở chỗ đó, vì đạo đức của chúng ta xây dựng trước và trí tuệ xây dựng sau, kết hợp hai điều này lại mới có được điều thứ ba là người chưa an thì làm cho họ an. Họ đến với ta mà cảm thấy an, mới ở lại và hợp tác.

     Người chưa phát tâm, ta làm cho họ phát tâm, còn ta làm họ thoái tâm là tội. Phần nhiều quý vị tu sai, có đạo hữu thưa với tôi rằng con tụng được một ngàn bộ kinh Pháp hoa, thậm chí trích máu để viết kinh Pháp hoa; nhưng tôi cảm giác đạo hữu này chưa tụng được bộ nào, vì kinh Pháp hoa dạy rằng người chưa an, phải làm cho họ an, người chưa phát tâm phải làm họ phát tâm. Tôi thấy tâm ông này chưa an, người thấy phải sợ, vợ con ông không dám gần; đó là tu sai pháp, không giữ được phần cốt lõi của kinh mà cứ nghĩ tụng nhiều là tốt.

     Tụng một ngàn bộ kinh Pháp hoa, nhưng không an được. Quý vị thấy trong lịch sử Trung Quốc có ngài Lục tổ Huệ Năng khi tu đắc đạo với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, mới về Quảng Châu. Ngài thấy pháp sư Ấn Tông đang giảng kinhPháp hoa và vị này đã tụng Pháp hoa cả ngàn lần, cho nên người đến học rất đông. Lúc ngài Huệ Năng tìm tới, có chiếc phướn treo bay trong gió. Một thầy nói rằng phướn động, thầy khác nói gió động. Lúc đó ngài Huệ Năng còn là cư sĩ, ngài bảo không phải phướn động cũng không phải gió động, nhưng tâm các thầy động. Pháp sư đã tụng một ngàn bộ kinh Pháp hoa và đang giảng kinh mà không ngộ, nhưng nghe nói vậy mà ngộ được, liền đảnh lễ ngài Huệ Năng xin chỉ giáo. Có thể hiểu đó là Bồ-tát đến khai ngộ. Và ngài Huệ Năng sụp lạy pháp sư xin thầy cho xuất gia. Hai vị Bồ-tát này xử sự thật đẹp. Thật vậy, một vị pháp sư tụng kinh Pháp hoa và đang giảng kinh mà thấy một cư sĩ lang thang nói điều kỳ lạ lại sụp lạy ổng. Và cư sĩ cũng lạy lại xin xuất gia. Việc lạ lùng này chỉ có Phật và hai Bồ-tát đó hiểu, chúng ta làm sao hiểu được. Bấy giờ, pháp sư này mới sai người lấy dao cạo tóc Huệ Năng cho xuất gia luôn.

     Trên bước đường tu, chúng ta tụng bao nhiêu bộ kinh Pháp hoa không cần biết, nhưng nếu không làm cho người phát tâm thì không phải là hành giả Pháp hoa. Vì vậy, điều thứ ba quan trọng là làm cho người phát tâm. Chúng ta làm gì cũng tốt, nhưng chính yếu là làm người phát tâm. Tôi thuyết pháp, quý vị phát tâm nghe và ủng hộ xây Viện Phật học là tôi làm đúng ý Phật. Hòa thượng Giác Toàn giảng pháp, người nghe rất đông, nhưng nếu tôi thuyết pháp mà người bỏ đi là phá pháp. Làm người phát tâm là đạo, làm người thoái tâm là phá đạo.

     Điều quan trọng của người tu theo Phật là phải làm lợi ích cho chúng hữu tình. Chúng ta hiện hữu bất cứ chỗ nào trên cuộc đời này cũng đều mang an vui cho chúng sanh, đó là Pháp hoa. Chưa tụng Pháp hoa, nhưng họ là người đạo đức, có trí tuệ và làm lợi ích cho đời thì đó chính là tu Pháp hoa theo kinh Vô lượng nghĩa.