cool hit counter

Kiến Thức Phật Pháp

Xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

 
      Hội đồng Điều hành Học viện quyết định tổ chức khóa tu nửa tháng một lần ở đây nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho Phật tử nghe pháp, tu học và nhất là chúng ta tập trung, cùng nhau cầu nguyện, đóng góp công sức, tịnh tài để việc xây dựng Học viện được sớm hoàn thành. Trong tất cả các Phật sự, thầy nghĩ công đức xây dựng trường học Phật giáo là công đức lớn nhất, vì nếu không có trường Phật giáo thì không đào tạo được Tăng tài, chắc chắn Phật giáo bị suy đồi.
      Năm 1950, thầy xuất gia đi từ chùa này sang chùa khác để học đạo, nhưng đến đâu cũng không có trường lớp đào tạo chư Tăng. Lúc bấy giờ, ở chùa, các thầy chỉ dạy hai đường công phu là thời kinh chiều cúng cô hồn, ngày nay gọi là Mông sơn thí thực và một thời kinh khuya. Hoặc thêm nữa là học kinh Di Đà để đi tụng cầu siêu. Vì vậy, vào làng mà người ta thấy ông thầy tu thì nghĩ là có người chết. Gần như Phật tử không biết Phật giáo, thậm chí ông thầy tụng kinh Di Đà cũng không hiểu nghĩa.
      Phật giáo suy đồi đến mức độ như vậy, nhưng may mắn vào thời kỳ này đã có các vị cao tăng ra đời gọi là Bồ-tát thương nhân gian mà hiện thân lại cuộc đời. Tu Pháp hoa, chúng ta biết và tin rằng nhiều đời trước, các vị này đã đắc đạo, nhưng phát tâm độ chúng sanh, mới sanh lại nhân gian, không ở Niết-bàn.
      Tiêu biểu nhất của thời kỳ này là Hòa thượng Khánh Hòa là vị Tổ chấn hưng Phật giáo miền Nam. Ngài nói rằng có chùa mà chư Tăng không hiểu Phật pháp thì tệ hơn là không có chùa. Vì vậy, Hòa thượng đã bán chùa Tuyên Linh cho người ta xây đình thờ thần và ngài dùng số tiền đó để thỉnh bộ Đại tạng kinh dạy chư Tăng. Và may mắn đồng thời đó có hai vị danh tăng là Hòa thượng Khánh Anh và Hòa thượng Huệ Quang. Ba vị này hợp tác với nhau xây dựng Lưỡng Xuyên Phật học là trường đầu tiên đào tạo chư Tăng. Các vị xuất thân từ trường này, nổi tiếng có Hòa thượng Thiện Hoa và Hòa thượng Thiện Hòa. Về sau, hai vị này mở trường Phật học Nam Việt tại chùa Ấn Quang đã đào tạo được nhân tài cho Phật giáo. Lớp đàn anh đầu tiên xuất thân từ đây có thầy Huyền Vi, thầy Thanh Từ, thầy Từ Thông và kế tiếp là lớp thầy.
      Nhờ có chư Tăng đã được đào tạo, nên vào năm1963 xảy ra biến cố đàn áp Phật giáo, chư Tăng đã thành lập Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo chống lại sự đàn áp của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Có thể nói vào thời kỳ đó, thế giới biết được Phật giáo Việt Nam là nhờ phong trào tranh đấu năm 1963 của giới Phật giáo chúng ta. Nổi bật nhất là Hòa thượng Quảng Đức tự thiêu làm thế giới phải bàng hoàng. Các nước xã hội chủ nghĩa cũng như các nước tư bản đồng ủng hộ Phật giáo lật đổ chính quyền Diệm.
      Từ đó, các thầy có ý thức đào tạo chư Tăng để lãnh đạo Giáo hội và hướng dẫn Phật tử sống theo pháp Phật. Trường đại học Phật giáo đầu tiên là Đại học Vạn Hạnh được thành lập năm 1964 do Hòa thượng Minh Châu vận động xây dựng. Với tư cách là Viện trưởng, ngài điều hành Đại học này từ năm 1964 đến 1975. Khi đất nước thống nhất, theo luật pháp đương thời, tất cả các trường học đều do Nhà nước quản lý, nên phải giao Đại học Vạn Hạnh và cả hệ thống Trường Bồ Đề cho Bộ Giáo dục quản lý.
      Đến năm 1981, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, nhờ Đức Pháp chủ đệ nhất, Hòa thượng Thích Đức Nhuận yêu cầu Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho phép mở trường đào tạo Tăng tài, vì nếu không cho đào tạo chư Tăng thì Giáo hội kết hợp những người thất học, như vậy không phải là Phật giáo, bởi Phật giáo là đạo trí tuệ. Đặc biệt khi Đại hội suy tôn ngài là Pháp chủ, ngài đã tuyên bố rằng nếu yêu cầu cho mở trường đào tạo chư Tăng không được Thủ tướng chấp thuận thì ngài đứng hoài, không ngồi xuống. Lúc ấy, ông Trưởng ban Tôn giáo mới hứa rằng sẽ trình lại Thủ tướng vấn đề này và chắc chắn là Thủ tướng chấp thuận.
      Với sự cương quyết như vậy của Hòa thượng Pháp chủ, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam ra đời vào năm 1983 do Hòa thượng Minh Châu làm Hiệu trưởng đã đào tạo được một số Tăng Ni. Thật vậy, khóa I chỉ cho phép đào tạo 60 Tăng Ni. Khóa II, cho tăng lên 100 Tăng Ni, trong đó có Thượng tọa Bửu Chánh được đào tạo từ khóa này và Thượng tọa đã sang Ấn Độ lấy học vị tiến sĩ. Hiện nay, Thượng tọa giữ chức vụ Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh phụ trách khoa Pali, kế nghiệp Hòa thượng Minh Châu.
      Số Tăng Ni tốt nghiệp khóa I, II, III được gởi ra nước ngoài, đạt được học vị tiến sĩ. Hòa thượng Minh Châu đã cống hiến toàn tâm toàn lực cho việc đào tạo Tăng Ni trải qua 4 khóa và một số Tăng Ni có học vị cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Chúng ta xin chính phủ đổi tên Trường Cao cấp Phật học Việt Nam thành Trường Đại học Phật giáo, nhưng nếu là đại học thì phải có nhiều khoa, trong khi chúng ta chỉ có chuyên khoa Phật giáo. Đến năm 2007, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam được đổi tên là Học viện Phật giáo Việt Nam. Học viện nghĩa là đại học chuyên dạy một ngành.
      Để tiếp tục đào tạo Tăng Ni, thầy phụ trách Viện trưởng khóa V, VI, VII, VIII. Số lượng Tăng Ni lên đến trên 1.000 người và đông như vậy thì Học viện ở đường Nguyễn Kiệm không đủ sức chứa, lại có thêm Viện Nghiên cứu cũng đặt ở đó. Vì vậy, phải tìm đất rộng để xây trường. Trước yêu cầu chánh đáng này, ông Nguyễn Minh Triết, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã tìm đất cho Phật giáo xây dựng trường. Tìm được khu đất này, Nhà nước đã cho chúng ta xây dựng từ mười năm trước, nhưng chính quyền thành phố nói rằng Hòa thượng Minh Châu lúc đó đã ngoài 80 tuổi, sức yếu thì việc quản lý cơ sở này không thích hợp. Vì vậy, thành phố không thể cấp đất xây dựng trường.
Năm 2007, Học viện Phật giáo Việt Nam cử thầy thay thế Hòa thượng Minh Châu điều hành Học viện này. Lúc ấy, chính quyền thành phố mới cho làm thủ tục xin cấp đất để xây trường. Như vậy là mất một nhiệm kỳ (5 năm) thầy chỉ lo thủ tục xin cấp đất và giải tỏa đền bù cho dân ở khu đất này. Khó nhất là giải quyết tài chánh, vì muốn Nhà nước giao đất làm trường, chúng ta phải trả tiền đền bù dân dọn đi, số tiền không nhỏ, 17 tỷ đồng. Đó là việc khó khăn đầu tiên. Hội đồng Điều hành suy nghĩ không biết làm sao có được số tiền đền bù nhiều như vậy.
     May mắn lại đến, Thượng tọa Thanh Phong đã tốt nghiệp khóa II Học viện, tức đồng khóa với Thượng tọa Bửu Chánh. Thượng tọa Thanh Phong nói với thầy rằng nếu trường không có tiền thì con đi vay ngân hàng cho Hòa thượng. Nghe nói vay tiền, thầy rất sợ mang nợ; nhưng không vay thì lấy tiền đâu đền bù cho dân, mà không đền bù thì Nhà nước không cấp đất, làm sao xây trường! Thầy đã bóp bụng ký tên vay 15 tỷ đồng. May mắn đến nữa, ông Giám đốc ngân hàng rất dễ thương nói rằng con cho Hòa thượng vay không lấy lãi. Năm năm sau, mỗi tháng, Hòa thượng chỉ trả 200 triệu đồng cho đến khi trả hết nợ, không tính lãi. Thầy thấy nhiều người vay tiền, lãi chồng chất lên không trả nổi lãi, huống chi là trả vốn. Năm năm nghe lâu, nhưng thời gian trôi qua thật mau, thấm thoắt thầy đã mãn một nhiệm kỳ và bắt đầu từ năm 2014, mỗi tháng phải trả 200 triệu đồng.Nhờ có được số tiền 15 tỷ mà ngân hàng cho vay, chúng ta đã lấy được hơn 23 hecta đất nơi đây là khu rừng tràm để xây dựng trường. Nhưng làm sao có tiền để xây dựng, lại lo. Thượng tọa Thanh Phong thưa một lần nữa khiến thầy giựt mình: "Hòa thượng phải nghĩ đến việc san lấp 6 hecta trước, tốn không nhiều lắm, có thể làm được, chắc chắn trên dưới 20 tỷ”. Món nợ 15 tỷ để trả cho dân đã vay ngân hàng chưa trả, lại chồng thêm nợ 20 tỷ nữa để san lấp, đáng sợ!
     Thầy nghĩ nếu không có sức mạnh vô hình của Phật, của Bồ-tát, của Hộ pháp long thiên gia hộ, chắc chắn chúng ta làm không nổi. 15 tỷ trả cho dân di dời thì vay của ngân hàng, 20 tỷ để san lấp mặt bằng do một số đại gia phát tâm cúng dường. Thầy Thanh Phong nói rằng khi mình có đất có sổ đỏ và chính thức xây dựng, người ta mới dám đầu tư vì nghĩ mình làm được; còn không có đất mà nói thì ai dám tin. Thượng tọa Thanh Phong tiếp tục vận động 20 tỷ san lấp, thầy khỏi lo.
      San lấp xong, ngày 4-11-2012 làm lễ khởi công xây dựng, đến nay đã hơn một năm, nhưng việc xây dựng cũng khó. Tuy nhiên, may mắn nữa là Tập đoàn Vincom của ông Phạm Nhật Vượng đã phát tâm xây dựng tòa nhà hành chánh khoảng 20 tỷ. Và trong lúc làm lễ đặt đá khởi công xây trường, Phật tử đóng góp được khoảng 20 tỷ, trong đó đạo tràng Pháp Hoa cúng hơn 6 tỷ, đó là một số tiền lớn đối với đạo tràng chúng ta, nhưng thực sự số tiền đó không nhiều, giống như là hạt cát bỏ biển so với số tiền cả trăm tỷ xây dựng.
      Thầy Bửu Chánh nói rằng thầy Thanh Phong có lẽ là Bồ-tát hiện thân lại mới có khả năng vận động tài chánh lớn lao như thế. Vì vậy, nên cho thầy Thanh Phong làm Viện phó đặc trách xây dựng trường để thầy có đủ tư cách và điều kiện hỗ trợ cho việc xây dựng được nhanh hơn, vì ít nhất, xây dựng Tăng xá và Ni xá dự trù cuối năm nay xong, nhưng phải cần đến 50 tỷ.
      Hội đồng Điều hành quyết định mỗi tháng tổ chức tu hai lần tại đây để Phật tử đóng góp công sức và cầu nguyện cho việc xây dựng trường được sớm hoàn thành. Đối với người không hằng tâm hằng sản về tu cũng góp phần cầu nguyện là điều tốt. Ngoài ra, quý vị vận động các Phật tử khác cũng về đây tu, vì Phật dạy rằng đức chúng như hải, nhiều người cầu nguyện sẽ thành công. Điều đáng mừng là trước mắt bốn tòa nhà đang thi công, mỗi tháng chúng ta tu sẽ thấy những tòa nhà này phát triển nhanh. Thầy dự định vào ngày tu, buổi sáng Phật tử tập trung lúc 8 giờ nghe thuyết pháp, sau đó, góp phần cầu nguyện và buổi trưa ăn cơm xong kết thúc ngày tu.
      Đức Phật dạy rằng người chứng sơ quả không có cảm giác đói khát. Vì vậy, người nghiệp nặng ăn suốt ngày vẫn không thấy đủ; người nhẹ nghiệp thì nhịn ăn cũng không đói. Người có tâm an lạc vào thiền định mới cảm nhận điều này. Hòa thượng Thanh Kiểm nói rất đúng, nếu nghĩ đến món ăn nhiều thì thấy đói nhiều. Quên ăn sẽ không đói. Lúc còn trẻ, Hòa thượng học ở Nhật vào thời kỳ kinh tế khó khăn, ăn uống thiếu thốn. Hòa thượng nghe tiếng gõ của người bán khoai lang mà thèm chảy nước miếng và nuốt nước miếng này vô bao tử càng thấy đói thêm. Hòa thượng nghĩ đến lời Phật dạy về Thiền duyệt thực, ngài mới uống nước lạnh rồi ngồi thiền, quên đói. Thầy cũng đã áp dụng pháp này, khi tập trung tư tưởng làm việc gì đó thì quên đói, quên ăn, đó là pháp tu. Trong Phật giáo, kinh nghiệm của những vị đi trước nhắc nhở chúng ta về Thiền duyệt vi thực, nghĩa là lấy niềm vui trong thiền định làm món ăn sẽ có được thức ăn thượng diệu là pháp Phật.
      Phật tử về đây góp công cầu nguyện và nghe giảng sư thuyết pháp nói về kinh nghiệm tu hành mà các ngài đã trải nghiệm trong cuộc sống. Để tâm đến hai điều này, chúng ta quên đói. Còn nghĩ đến đây được ăn ngon, nhưng cảm thấy không được như vậy thì khổ tâm là đọa ngạ quỷ. Trên bước đường tu, nỗ lực đi vào sơ quả Tu-đà-hoàn, đừng để đọa địa ngục ngạ quỷ, đói muốn ăn nhưng không được thì buồn phiền lại đọa nữa. Tu hành, nhất định đi lên, quan trọng là phải đạt được Thiền duyệt thực, nói cách khác, đến đây với tất cả tấm lòng cho mình là nghe pháp và cho người, cho chúng sanh là cầu nguyện việc xây dựng trường sớm hoàn thành để Tăng Ni có nơi tu học.
     Thời nay, kinh tế phát triển, nhưng đạo đức đi xuống là điều nguy hiểm. Phải phát triển đạo đức song song với phát triển kinh tế. Người làm được điều này nhiều nhất là chư Tăng, nói rộng là các tôn giáo. Khi đạo đức xuống thì các tôn giáo tranh chấp với nhau, nói xấu nhau. Nếu đạo đức cao sẽ có tầm nhìn thoáng.
      Lúc mới tu, thầy không có thiện cảm với nhiều điều xảy ra. Nhưng nhờ sống trong giáo pháp Phật, lần lần tầm nhìn của thầy đổi khác. Người ta dễ lầm rằng tôn giáo là đạo đức, nhưng tôn giáo chống nhau, trở thành phi đạo đức. Người có đạo đức phải nhìn thoáng hơn. Và nhìn theo Phật mới thấy đúng đắn, tự thay đổi bản thân. Người sanh trong gia đình nghèo, phải sống khổ cực, thấy xã hội bất công, nên họ thường than trời trách đất. Nhưng tu theo Phật, Ngài dạy luật nhân quả giúp chúng ta thấy rõ hiện tại đang sống mà biết được nghiệp quá khứ của mình đã tạo. Thật vậy, thầy vào định, thấy đầy tội lỗi của mình trong A-lại-da thức, buồn phiền, ganh tỵ, hơn thua có đủ. Vì vậy, thầy có thay đổi lớn là không quan tâm đến việc bên ngoài, chỉ lo lạy sám hối cho tiêu nghiệp. Ngài Trí Giả dạy rằng phải sám hối để nghiệp tiêu, đa số người không làm tiêu nghiệp mình lại làm nghiệp tăng trưởng, chắc chắn bị đọa và khổ hơn nữa.
      Phật dạy rằng sám hối cho đến khi thấy hảo tướng hiện, nghĩa là ở hoàn cảnh xấu, nhưng sám hối tiêu nghiệp thì tâm thanh thản, không buồn, không giận, không lo, không sợ là hết nghiệp. Còn khởi ý niệm là còn nghiệp. Tiêu nghiệp thì những gì xảy đến, ta chấp nhận dễ dàng. Sạch nghiệp, hảo tướng hiện thì lòng không thấy bất công. Người ta giàu có, hung dữ, tham lam, ích kỷ là việc của họ, ta mặc họ, không liên hệ với họ và cũng không nghĩ đến điều xấu của họ.
     Việc mình quan tâm là siêng nghĩ đến Phật, lạy Phật cho đến hảo tướng hiện, bấy giờ, nhìn đời không thấy xấu. Thấy Phật và nhận ra Phật hộ niệm, che chở mình, nên càng lo nỗ lực tu, làm được gì tốt đẹp cho mình ở đời sau, tức cố gắng làm được gì cho Phật pháp thì hết lòng làm. Thầy ở chùa, luôn cố gắng làm tốt đẹp cho đạo pháp, cho cuộc đời. Việc của người khác, mình không quan tâm. Hàng ngày tự kiểm mình đã làm được gì, nếu không làm được gì mà vẫn ăn cơm chùa, ở nhà của Phật, chắc chắn bị đọa. Cố gắng làm tốt cho có phần dư, phần tích lũy công đức thì cuộc sống mới tốt lên.
Thượng tọa Bửu Chánh nói hữu lý rằng khi sang Pháp thấy Phật tử cúng dường Hòa thượng Nhất Hạnh, không cúng Thượng tọa. Ông nghĩ rằng Hòa thượng đã gieo duyên với người Pháp, còn ông chưa gieo duyên với họ, nên lấy tiền cho họ là hành bố thí giúp người để gieo nhân cho đời sau. Thầy nói với Thượng tọa rằng làm như vậy chắc chắn đời sau sẽ có đệ tử mũi cao. Thượng tọa Bửu Chánh ở tỉnh Đồng Nai, tuy đường xa nhưng cũng xuống đây đóng góp sức mình cho việc cầu nguyện, như vậy là tạo công đức cho đời sau.
     Các Phật tử được gặp Phật pháp, việc gì làm được cho cuộc đời, cho xã hội, hãy sẵn lòng làm và những gì làm cho Phật giáo cũng tận tâm tận lực đóng góp. Được như vậy, quý vị tái sanh sẽ có thiện tri thức hợp tác, giúp mình làm được nhiều việc tốt hơn nữa. Nếu mãn duyên Ta-bà, về Cực lạc hay Niết-bàn, điều đó tính sau