cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp HoaHT THÍCH TRÍ QUẢNG


Sách / Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp Hoa / Phẩm 1: Tựa

Lần nghe: 93.343

 I. LƯỢC VĂN KINH

Một thuở nọ, Đức Phật ở núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá cùng với chúng Tỳ kheo mười hai ngàn vị, sáu ngàn Tỳ kheo ni, tám mươi ngàn Bồ tát, bảy mươi ngàn chư Thiên, tám vị Long vương, bốn Càn thát bà vương, bốn A tu la vương, bốn Ca lâu la vương và trăm ngàn quyến thuộc của các vị này. Vua A Xà Thế và đoàn tùy tùng cũng đều hiện diện.

Sau khi tứ chúng cúng dường và xưng tán, Phật nói kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Nói kinh này xong, Ngài nhập chánh định Vô Lượng Nghĩa xứ. Khi đó trời mưa hoa Mạn đà la, Ma ha Mạn đà la, Mạn thù sa, Ma ha Mạn thù sa, khắp cõi nước Phật, vang động sáu cách.

Từ tướng bạch hào của Phật phóng ra một luồng hào quang chiếu khắp mười tám ngàn thế giới ở phương Đông, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Sắc Cứu cánh. Nhờ ánh quang này, chúng hội thấy rõ sáu loài chúng sanh, chư Phật nói pháp, Bồ tát tu hành, thấy cả chư Phật Niết bàn và việc xây tháp thờ Xá lợi.

Bồ tát Di Lặc và tứ chúng đều ngạc nhiên trước hiện tượng chưa từng thấy. Di Lặc thay mặt cho chúng hội nhờ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát giải thích. Văn Thù cho biết từ thời Đức Phật quá khứ Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai, ông đã từng thấy điềm lành này. Trước khi Phật nói pháp quan trọng mà mọi người khó tin theo, các Ngài phóng quang hiện cảnh như vậy. Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai cũng nói pháp Tứ đế cho hàng Thanh văn, nói pháp Thập nhị Nhân duyên cho hàng Duyên giác và nói sáu pháp Ba la mật cho hàng Bồ tát.

Tiếp theo, có đến hai mươi ngàn Đức Phật đồng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh và đồng một họ là Phả La Đọa. Đức Phật sau cùng lúc chưa xuất gia có tám vương tử cai trị bốn phương thái bình. Nghe vua xuất gia thành đạo Vô thượng Chánh đẳng giác, họ cũng xuất gia, phát tâm Đại thừa, tu hạnh thanh tịnh, đều làm Pháp sư. Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh cũng nói kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập Vô Lượng Nghĩa xứ định. Khi ấy, trời mưa hoa Mạn đà la, Mạn thù sa và Phật cũng phóng quang chiếu mười tám ngàn thế giới ở phương Đông.

Sau đó, Ngài nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa cho Diệu Quang Bồ tát trải qua sáu mươi tiểu kiếp. Người nghe pháp ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp mà thân tâm không động, không mệt mỏi, cảm thấy thời pháp ngắn ngủi như khoảng bữa ăn. Nói kinh này xong, Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh bảo đại chúng rằng vào khoảng giữa đêm, Ngài nhập vô dư Niết bàn và thọ ký cho Đức Tạng Bồ tát kế tiếp thành Phật Tịnh Thân Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác.

Đúng như lời Ngài nói, vào giữa đêm, Ngài nhập vô dư Niết bàn. Diệu Quang Bồ tát trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nói pháp trong tám mươi tiểu kiếp và dạy cho tám người con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh vững tâm nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng giác. Tất cả đều lần lượt thành Phật, vị sau cùng hiệu là Nhiên Đăng. Trong tám trăm đệ tử của Bồ tát Diệu Quang, có một người tên là Cầu Danh. Người này ham ưa danh lợi, tuy đọc tụng kinh nhưng không sống theo tinh thần của kinh dạy. Tuy nhiên, nhờ có nhân duyên căn lành, nên ngài cũng được gặp và cúng dường vô lượng Phật. Diệu Quang Bồ tát bấy giờ chính là Ta và Cầu Danh Bồ tát là Di Lặc.

Văn Thù Bồ tát kết luận rằng điềm lành mà Phật cho thấy hôm nay không khác xưa kia. Ngài nghĩ rằng Đức Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm.

 

II. GIẢI THÍCH

Qua phẩm Tựa mở đầu kinh Pháp Hoa, chúng ta thấy trụ xứ mà Phật thuyết kinh là Linh Thứu sơn, hay núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, thủ đô nước Ma Kiệt Đà, ngày nay là tiểu bang Bihar của Ấn Độ. Đây là địa danh sau cùng mà Phật dừng chân trên bước đường giáo hóa chúng sanh. Trải qua bốn mươi năm dìu dắt chúng hội để đưa đến đỉnh núi Linh Thứu, Ngài mới nói Pháp Hoa, trong khi các kinh khác Phật đều giảng ở tịnh xá.

Điều này tiêu biểu cho sự nỗ lực gia công của hành giả vượt qua tất cả khó khăn, vận dụng tất cả khả năng leo lên núi mới lãnh hội được kinh Pháp Hoa. Nói cách khác, bốn mươi năm Phật rèn luyện cho con người vượt qua sự chi phối của thân tứ đại (Thân tứ đại thường được ví như bốn ngọn núi) mới được Như Lai truyền trao tạng bí yếu.

Pháp tối thượng của Ngài đã được diễn nói ở một nước do bạo chúa A Xà Thế cai trị cực kỳ hung ác đến độ giết cha hại mẹ. Và núi Linh Thứu, chỗ ở của loài diều hâu chuyên bay xuống Thi Lâm ở kế bên (bãi xác chết) để ăn thây người chết. Nhưng hoa Ưu Đàm đã nở trọn vẹn, tỏa hương thơm ngát trên mảnh đất hung tàn bạo ngược này. Thật vậy, Phật đặt chân đến nơi đây, dù chưa nói một lời, nhưng uy đức và lòng Từ vô lượng vô biên của Ngài đã chuyển hóa được tâm ác độc của vua A Xà Thế. Ông đã từng làm việc tội lỗi như thả voi say hại Phật, hay xô đá đè Phật. Nay ông trở thành người hộ pháp đắc lực nhất và cũng dẫn thần dân về dự hội Pháp Hoa.

Không giống các pháp hội khác, hàng thính chúng vây quanh Phật ở hội Pháp Hoa không bị giới hạn bởi con số và chủng loại. Chúng Thanh văn và Bồ tát được coi là quyến thuộc kề cận Phật. Về mặt tha thọ dụng thân, hay Phật sanh diệt, quyến thuộc của Ngài là mười hai ngàn Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, tức chúng Thanh văn.

Trong số chúng Thanh văn này, có một ngàn hai trăm vị A la hán. Các ngài đã chế ngự được mọi ham muốn, phiền não không còn, được tự tại về sự hiểu biết, về mọi lãnh vực, thoát khỏi sự ràng buộc trong đời sống, có sức tập trung tư tưởng và không dao động trước mọi hoàn cảnh. Vì các ngài đã đạt được lẽ sống siêu tự nhiên. Những vị này đã chứng được sáu pháp thần thông, như A Nhã Kiều Trần Như, Ma ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, v.v… Ngoài các vị A la hán, còn có những vị được dự vào dòng Thánh từ Sơ quả đến Tam quả do ngài A Nan dẫn đầu.

Bên cạnh hàng Thanh văn là quyến thuộc của Phật sanh diệt, còn có sự hiện hữu của tám mươi ngàn Bồ tát kề cận với Báo thân Phật hay chân thân Phật, mà hàng Thanh văn và loài người không thấy được. Các vị này là đại Bồ tát không thoái chuyển ở đạo Vô thượng Chánh đẳng giác như Văn Thù Sư Lợi, Quan Thế Âm, Đắc Đại Thế, v.v… Các ngài có pháp thần biến, giảng nói chánh pháp không ngừng nghỉ, luôn sống trong trí tuệ Như Lai. Vì các ngài đã từng thân cận, cúng dường, tu học với muôn ức Đức Phật, nổi tiếng thơm khắp mười phương, trang nghiêm thân tâm bằng lòng Từ, thường cứu vớt vô số chúng sanh.

Các vị Bồ tát đến dự hội Pháp Hoa đông đủ như vậy trong một hội trường hữu hạn của núi Kỳ Xà Quật, nhưng không chướng ngại cho Thanh văn, vì các ngài hiện hữu trong tư thế siêu hình, thông được các pháp. Vì vậy, lúc đó trong đạo tràng, chúng Thanh văn thấy có Đức Thích Ca bằng xương thịt trước mặt thuyết pháp. Nhưng đối với chúng Bồ tát, Đức Phật nói pháp là Phật siêu thực, có tầm vóc lớn tương xứng với họ.

Ngoài ra, còn có Thiên long Bát bộ (Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la) cũng dự hội. Thiên long Bát bộ hiểu theo nghĩa thứ nhất là một thực thể tồn tại khách quan, nhưng mắt chúng ta không nhận thấy được. Nghĩa thứ hai, hiểu theo triết học, nhằm chỉ tâm trạng con người chúng ta.

Mỗi người có trình độ nhận thức và cuộc sống, nếu đem phân tích, thấy giống như cá tánh của Thiên long Bát bộ. Thí dụ Trời Phạm tiêu biểu cho những người sống trong Thiền định có tâm hồn hoàn toàn yên tĩnh, mang thân người, nhưng không bị dục tình quấy nhiễu. Hoặc Trời Đế Thích tiêu biểu cho những người sống ở trần gian đầy đủ phước lạc, thân tướng xinh đẹp và tâm hồn luôn vui sướng. Hoặc Rồng, Dạ xoa, A tu la tiêu biểu cho những người hung dữ ngang bướng ở thế gian. Khi họ vào pháp hội cũng trở thành hiền hậu và thâm nhập pháp Phật.

Tất cả mọi chủng loại trong pháp hội chắc chắn sinh hoạt trong những cảnh giới không cùng một luật tắc và điều kiện như thế giới vật chất của loài người. Tâm niệm, hạnh nguyện của Thanh văn và Bồ tát khác nhau, nên uy lực cùng tuệ nhãn không thể giống nhau. Cũng như đối với chúng trời, người và quỷ thần, nghiệp lực lôi kéo tâm thức họ theo những đường hướng không đồng. Tuy nhiên, tất cả đều được tụ họp lại không chướng ngại nhau trong cùng một pháp hội bằng một năng lực bất khả tư nghì của Phật.

Phật nói kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa cho Bồ tát. Đây là một bộ kinh giảng nói không cùng tận, biến hóa không lường. Chỉ có hàng Bồ tát mới có khả năng thể nhập dòng thác trí tuệ Như Lai. Đối với các pháp biến dịch không cùng, tâm Bồ tát đã hoàn toàn tự tại mới hiểu được Vô Lượng Nghĩa vô số muôn màu. Hàng Thanh văn còn kẹt pháp, không thể vào cửa Vô Lượng Nghĩa.

Nói kinh Vô Lượng Nghĩa xong, Phật nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ định, thân không lay động, tâm hoàn toàn tịch tĩnh. Nhưng vô tác diệu lực của Ngài có một tác dụng sâu xa. Khi nhập Định, tâm thức của Ngài thông với Pháp giới và trở về cùng tột thật tướng các pháp, tạo thành lực dụng bất khả tư nghì, đưa chúng hội vào cảnh giới mầu nhiệm của Phật.

Trạng thái yên lặng của Phật ở Vô Lượng Nghĩa Xứ định lôi cuốn pháp hội vào Định, tạo thành sự thông đồng giữa Phật với chúng hội và Như Lai mới giáo hóa bằng tâm, không bằng ngôn ngữ. Trong sự truyền thông qua tâm, đại chúng thấy hoa Mạn đà la, Ma ha Mạn đà la, Mạn thù sa, Ma ha Mạn thù sa. Bốn loại hoa này, hiểu theo nghĩa thần thoại là hoa thật của chư Thiên. Hiểu theo tinh thần triết học, nó không phải là một hiện tượng, mà chính yếu mang ý nghĩa là sự tác dụng của pháp Phật.

Hoa Mạn đà la có rơi th