cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp HoaHT THÍCH TRÍ QUẢNG


Sách / Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp Hoa / Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự

Lần nghe: 89.902

I. LƯỢC VĂN KINH

Bấy giờ Bồ tát Tú Vương Hoa thỉnh Phật nói cho đại chúng biết về công hạnh của Bồ tát Dược Vương ở Ta bà. Đức Phật đáp: "Trong quá khứ lâu xa về trước, có Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức. Ngài có tám mươi ức đại Bồ tát, bảy mươi hằng hà sa đại Thanh văn. Ngài thọ bốn mươi hai ngàn kiếp. Trong nước của ngài không có ba đường ác và các khổ nạn, đất bằng lưu ly thanh tịnh trang nghiêm. Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức nói kinh Pháp Hoa cho Bồ tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến và các Bồ tát nghe.

"Bồ tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến thường tinh tấn kinh hành, một lòng cầu thành Phật, mãn mười hai ngàn năm được Hiện nhất thiết sắc thân. Bồ tát này tự nghĩ nhờ nghe kinh Pháp Hoa mà được chánh định này, ngài liền nhập Định trong hư không, rưới hương hoa trời để cúng dường Phật và kinh Pháp Hoa. Cúng dường xong, ngài xuất Định và tự thấy dùng thần lực cúng dường chưa bằng lấy thân cúng dường. Ngài liền uống các dầu thơm mãn một ngàn hai trăm năm và quấn thân bằng áo báu cõi Trời và rưới dầu thơm lên, rồi dùng sức nguyện thần thông tự đốt thân.

"Ánh sáng tỏa soi tám mươi ức hằng hà sa thế giới và chư Phật đồng ngợi khen: "Lành thay, như vậy mới là pháp cúng dường…”. Lửa cháy đến một ngàn hai trăm năm và sau khi mạng chung Bồ tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến sanh lại trong nước của Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức. Ở trong cung vua Tịnh Đức, ngài bỗng nhiên hóa sanh và thưa với vua cha rằng nhờ cúng dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức mà ngài được Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn Đà la ni và vô số kệ của kinh Pháp Hoa. Nay biết Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức vẫn còn, ngài lại xin tiếp tục cúng dường. Nói xong, ngài bay lên hư không đến trước Phật Tịnh Minh Đức dùng kệ tán thán Phật rồi bạch: "Thế Tôn vẫn còn ở đời ư”. Đức Phật trả lời: "Ông nên sắp đặt giường tòa, Ta sẽ nhập Niết bàn trong đêm nay. Ta nay giao phó Phật pháp, các Bồ tát và đại đệ tử cho ông. Ta cũng giao cho ông ba ngàn đại thiên thế giới và tất cả xá lợi của Ta”.

"Vào cuối đêm, Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức nhập Niết bàn. Sau khi hỏa thiêu, ngài để Xá lợi Phật vào bình báu và an trí ở tám mươi bốn ngàn tháp cao ba thế giới. Bấy giờ, ngài tự nghĩ xây tháp cúng dường Xá lợi cũng chưa đủ. Ngài liền ở trước tám mươi bốn ngàn tháp, đốt hai cánh tay trong suốt bảy mươi hai ngàn năm, khiến vô số người cầu Thanh văn và vô số người phát tâm cầu Vô thượng giác trụ trong Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội.

"Đại chúng thấy Bồ tát đốt tay đều buồn thương. Ngài ở trong đại chúng lập lời thề rằng: "Ta bỏ hai tay, ắt sẽ được thân Phật. Nếu đúng như vậy, xin cho hai tay tự nhiên có trở lại”. Vừa thệ nguyện xong, hai tay của ngài hoàn lại như cũ. Đức Phật Thích Ca bảo Tú Vương Hoa Bồ Tát rằng Bồ tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến thuở xưa, nay chính là Bồ tát Dược Vương”.

Này Tú Vương Hoa, ai muốn phát tâm được Vô thượng Bồ đề mà đốt một ngón tay cúng dường tháp Phật, còn hơn người dâng cúng cả trân bảocủa ba ngàn đại thiên thế giới. Người nào dùng bảy báu trong ba ngàn đại thiên thế giới cúng dường Phật, Bồ tát, Duyên giác, La hán, cũng không có công đức bằng người thọ trì kinh Pháp Hoa dù là một bài kệ.

Trong các kinh mà Như Lai nói, kinh Pháp Hoa cao hơn hết. Kinh này có thể làm cho chúng sanh xa lìa tất cả mọi tật bệnh thống khổ, có thể cởi mở sự trói buộc của sanh tử. Ai nghe phẩm này được vô lượng công đức. Sau khi Phật diệt độ, người nào tu hành đúng theo kinh này, khi mạng chung được vãng sanh về thế giới Cực Lạc của Phật Di Đà.

Bấy giờ, các Đức Phật đồng khen ngợi: "Hay thay, Tú Vương Hoa, ông có thể ở trong pháp hội của Đức Phật Thích Ca thọ trì đọc tụng kinhPháp Hoa và nói cho người khác nghe, công đức thực vô lượng. Trăm ngàn Đức Phật sẽ giữ gìn ông…”.

Phật bảo: "Tú Vương Hoa, ông phải truyền bá kinh này ở Diêm phù đề và dùng thần thông mà giữ gìn. Thấy ai thọ trì, ông nên rải hương bột trên người ấy và nghĩ rằng người này chẳng bao lâu sẽ ngồi đạo tràng, phá ma quân và độ thoát tất cả chúng sanh”.

Lúc Phật nói phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự có tám mươi bốn ngàn Bồ tát được Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn Đà la ni.

II. GIẢI THÍCH

Sau khi Phật truyền trao pháp ngữ cho các Bồ tát Tùng địa dũng xuất, đối với hành giả còn bị thân ngũ uẩn ngăn che, phần phú chúc này vẫn nằm ngoài tầm hiểu biết suy tư của họ. Đức Phật thương xót họ, giảng thêm việc làm của các Bồ tát trong sáu phẩm kế tiếp là Dược Vương Bồ tát, Diệu Âm Bồ tát, Quan Âm Bồ tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát và sự hộ trì bímật của các Bồ tát cho chúng ta ở phẩm Đà la ni.

Mở đầu phẩm, Phật giới thiệu với Tú Vương Hoa Bồ tát hình ảnh hành giả Pháp Hoa kiểu mẫu là ngài Dược Vương Bồ tát. Trong quá trình hành Bồ tát đạo để dẫn đến kết quả Dược Vương trở thành đại lương y cứu lành được tất cả thân bệnh và tâm bệnh của chúng sanh, ngài đã phát tâm Bồ đề, làm việc khó làm từ thời Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức với danh xưng là Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát.

Phần nhiều các Bồ tát do đức mà thành danh, không dùng tên cha mẹ đặt. Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến nghĩa là mọi loài chúng sanh đều ưa thấy. Ngược lại, với Thường Bất Khinh Bồ tát xuất hiện bằng thân nghiệp báo tu hành, nên là đối tượng của sự phỉ báng tội lỗi. Tu hành hết nghiệp, mới được mọi người tôn kính.

Với danh xưng là Nhứt Thiết Chung Sanh Hỷ Kiến biểu hiện ngài đã ở tư thế tiền Tam muội, sắp đạt quả vị Như Lai, mới là đối tượng đáng kính của các loài chúng sanh. Dưới sự hướng dẫn sáng suốt, thấy biết hoàn toàn chính xác của Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và sự trợ duyên của tám mươi ức đại Bồ tát pháp lữ, Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát đã nỗ lực phát triển sự tu học, tinh tấn kinh hành không ngừng nghỉ.

Kinh hành không có nghĩa là đi vòng vòng, hay đi cho tiêu cơm. Tâm nguyện của người cúng đã ký thác cho hành giả trong bát cơm và hành giả đáp ứng được mong cầu này mới tiêu cơm. Vì vậy, trong từng bước chân đi, hành giả suy nghĩ, hình dung xem người mang cơm đến cúng với dạng nào. Khả năng hiểu biết và tu hành của chúng ta làm được lợi ích gì cho họ. Vấn đề quan trọng của kinh hành ở điểm suy nghĩ, không phải ở hành động đi. Nếu suy nghĩ biết người yêu cầu ta đưa họ về Tịnh độ, thì Tịnh độ ở đâu và hành giả dùng phương tiện gì để đưa họ về Tịnh độ. Giải quyết tất cả vấn đề này, chắc chắn là việc không đơn giản.

Với pháp kinh hành quán tưởng như vậy, từng việc diễn biến trong tâm Bồ tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến. Cuối cùng, ngài đạt được Hiện nhứt thiết sắc thân Tam muội. Hiện Nhứt thiết sắc thân Tam muội là chánh định tụ, một trạng thái tâm hồn hoàn toàn yên tịnh. Nhờ đó, mới đến với Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức được.

Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức biểu hiện cho bản tâm thanh tịnh, nên hành giả không thể tìm bên ngoài. Trái lại, khởi đầu từ tư duy, tu hành của chúng ta mỗi ngày nhìn người nhìn vật, phán đoán đúng dần. Và từng bước gia công tu hành, lặn sâu vào thế giới Thiền định để hiểu biết, điều động việc.

Dược Vương Bồ tát đã từng ở trong thế giới thuần tịnh của Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, biết tất cả và làm được tất cả. Đó là câu trả lời của Phật cho Tú Vương Hoa Bồ tát biết tạisao Dược Vương hiện hữu ở Ta bà. Việc này tất yếu đối với người đắc đạo, vì khi an trụ trong thể của sự vật và từ thể này đi ra thế giới hiện tượng, sẽ có khả năng bung ra khắp Pháp giới không sót.

Hiện Nhứt thiết sắc thân Tam muội nghĩa là giải quyết được mọi việc trong Thiền định. Tuy ngồi yên lặng, nhưng việc thế gian đều thông suốt, tác dụng cho muôn loài thực lớn lao, hiện được tất cả loại hình tương ưng với tất cả đối tượng của ngài. Chúng sanh dưới dạng nào cũng thấy ngài là pháp lữ đáng cung kính. Nói cách khác, ngài tùy duyên ẩn hiện, tiêu biểu cho Bồ tát từ Quả môn trở lại hiện tượng giới. Với lực tác động quá kỳ diệu này, ngài được tặng cho danh hiệu là Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến.

Muốn đạt đến địa vị Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát, hành giả phải trải qua quá trình tu hành. Từ thân phận một người bình thường không được ai chấp nhận, ta luôn đối nghịch với muôn loài, tiến lên ta chỉ thuận một loài và vừa lòng một người. Hành giả mới bước vào hạnh Tiểu thừa, sống trong tầng lớp nào, lấy môi trường đó làm pháp lữ tu hành. Các thành phần khác xem như chống trái ta.

Từ địa vị được một thành phần trong xã hội quý trọng, hành giả nhìn lên thấy Phật là người được tất cả tầng lớp xã hội thương mến, thậm chí thành phần đối kháng với Phật cũng thấy Ngài là người đáng tôn kính. Các Bồ tát an trú trong pháp Phật lâu ngày, chịu ảnh hưởng Phật, phát hiện được lực tác động tiềm ẩn bên trong Ngài, mới cảm nhận được ý nghĩa của chữ "Không”. "Không” nghĩa là Phật không vướng bận giai cấp nào. Ở vị trí Pháp Hoa, hay tu trên Phật thừa, phát triển từ Chơn Không mà hiện Diệu Hữu, trong lòng Phật không vướng bận gì trần gian, nhưng Ngài vừa lòng tất cả mọi người.

Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát tu hành dưới dạng này, đạt được Nhứt thiết sắc thân Tam muội. Chúng sanh nghĩ gì, ngài hiện hình tương ưng theo ý muốn họ. Chúng sanh đến với Bồ tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến đều trở thành đối tượng của ngài. Ngài quán sát chúng sanh và vào Định để chứng nghiệm, đạt được Giải nhứt thiết ngữ ngôn Đà la ni, nghĩa là ngài biết rõ tâm niệm chúng sanh, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chúng sanh.

Bồ tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến đã trải qua quá trình tu hành sử dụng được Như Lai huệ, không phải là hiểu biết theo kinh nghiệm, cũng không phải là trí do học có được. Đó là niệm tâm từ chơn như khởi lên, làm theo trùng trùng duyên khởi, nên thành tựu được trùng trùng công đức.

Nghĩ đến công ơn giáo dưỡng của Phật quá lớn cùng với công đức kinh Pháp Hoa hay trí tuệ Như Lai chỉ đạo, Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến cúng dường Phật và cúng dường kinh Pháp Hoa bằng cách vận dụng thần lực của ngài. Đó là năng lực do tu chứng tạo thành một thế giới thần biến. Ngài bay lên hư không, rải các danh hoa và các loại hương cúng Phật. Về điểm này, tôi không nghĩ có Bồ tát Dược Vương mang thân người thực bay lên trời và rải hoa xuống cúngdường. Đối với tôi, Dược Vương dùng thần lựcnghĩa là dùng một sức mạnh siêu tự nhiên,nhưng có thực, nằm ngoài khả năng của người bình thường.

Thần lực không có nghĩa gì khác hơn là trí khôn con người phát triển đến cao độ, tạo thành sức mạnh siêu tự nhiên, mạnh gấp trăm triệu lần sức mạnh sử dụng bằng tay chân. Ngày nay, chúng ta có thể tạm hiểu sức mạnh siêu tự nhiên này ví như sức mạnh của nguyên tử lực do trí khôn con người phát minh. Theo kiến giải của ông Kubota, ngài Dược Vương dùng hương hoa cúng dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, mang ý nghĩa là hạnh cúng dường hay những việc làm thể hiện lợi lạc vẫn không rời bản vị giải thoát, khiến mọi người kính trọng Phật.

Theo Phật dạy, chỉ có năm thứ hương là giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương mới có khả năng bay ngược gió. Bồ tát không dùng hương nào khác ngoài năm phần hương này để dâng cúng Phật.

Khởi đầu tô điểm thân tâm bằng giới hương, hành giả sống một cuộc đời phạm hạnh thanh tịnh, không vi phạm luật pháp, không làm phiền lòng người. Ba nghiệp thân khẩu ý thuần tịnh, về thân thì đi, đứng, nằm, ngồi, hình tướng đĩnh đạc, lời nói thì luôn phù hợp kinh điển vì Hiền Thánh không nói năng thô tục hung ác như A tu la. Trong kinh thường diễn tả Phật dùng tiếng Phạm âm thâm diệu khiến người đều ưa nghe. Nghe ở đây nghĩa là nghe bằng tâm. Phật thốt ra lời nào cũng thể hiện chân lý, vì vậyđược người khát vọng chân lý lắng nghe, tiếp nhận. Oai nghi, ngôn ngữ và lòng Từ của Phật thấm nhuần trải khắp thân tâm hành giả và từ từ thể hiện trong cuộc sống. Hành giả trở thành con người giới đức hoàn toàn và hiểu biết sáng suốt.

Ngoài việc trang nghiêm thân tâm bằng năm phần hương để cúng dường Phật, hành giả dùng hoa cúng dường. Hoa tiêu biểu cho tinh ba, những gì đẹp nhất trên cuộc đời. Lấy hoa trang nghiêm, tức lấy hạnh Bồ tát làm mạng sống để tiếp cận chân lý và thâm nhập chân lý.

Dược Vương Bồ tát không ôm hoa hay hương bay lên trời cúng dường. Ngài nhập Định và hiện thần biến cúng dường, nghĩa làm cho cuộc đời nở hoa và tỏa hương. Tuy ngồi yên, nhưng công đức của ngài tác động sáng đẹp cuộc đời.

Khi biết tất cả và làm được tất cả, kinh gọi là Giải nhứt thiết ngữ ngôn Đà la ni, Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến vẫn chưa mãn nguyện. Điều này gợi cho chúng ta suy nghĩ đạo Bồ tát không bao giờ hết. Càng làm tốt, đạo hạnh càng cao. Càng làm đẹp cuộc đời bao nhiêu, công đức càng tăng trưởng lên bấy nhiêu. Bồ tát Dược Vương nghĩ rằng dùng phẩm vật cúng dường không bằng dùng thân cúng dường. Ngài uống tất cả dầu thơm và lấy lụa cõi trời quấn thân đốt đến một ngàn hai trăm năm, thân Bồ tát mới hết.

Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát trải một thời gian dài uống các danh hương, nghĩa là uống tất cả pháp môn tu của Phật, hay những lời dạy quý giá của Phật huân tu vào lòng. Bồ tát Pháp thân tăng trưởng theo pháp vị uống vào, phát huy đến mức tiêu biểu cho những gì hay đẹp trọn vẹn và dùng thành quả ấy để làm lợi ích cuộc đời.

Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát cũng lấy lụa đẹp cõi trời tự quấn thân, nghĩa là dùng thân chư Thiên trang nghiêm cho mình. Tuy sống trên nhân gian, nhưng Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát tiêu biểu cho mẫu người cao thượng của chư Thiên. Như vậy, với quá trình gạn lọc thân tâm thì bên trong Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát xông ướp bằng danh hương của Phật và Hiền Thánh, bên ngoài thể hiện bằng thân tướng đẹp nhất của cõi trời.

Huân tập đầy đủ thân tâm hoàn toàn trong sạch thánh thiện rồi, ngài dùng lửa Tam muội đốt thân. Vấn đề đốt thân cúng dường của Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát được đặt ra, gợi cho hành giả Pháp Hoa suy nghĩ rằng Phật có cần chúng ta đốt thân như vậy hay không.

Từ khi Phật Niết bàn đến nay, có nhiều người đốt thân cúng dường. Gần đây nhất, chúng ta thấy Hòa thượng Quảng Đức và một số Tăng Ni Phật tử thiêu thân cúng dường. Theo tôi, tâm nguyện của người thiêu thân nhằm mục đích gì và thể hiện được chân lý hay không mới thực sự quan trọng và có giá trị. Nếu thiêu thân suông như đốt đèn, đốt một khối vật chất, chúng sanh không được lợi ích, Phật giáo không tăng uy tín, chắc chắn việc làm này trở thành luống công vô ích và tệ hơn nữa, trở thành trò cười cho thiên hạ. Việc sai lầm này do thiếu trí tuệ chỉ đạo hoàn toàn khác với sự thiêu thân của ngài Quảng Đức đặt trên tâm niệm vì pháp, vì chân lý.

Ngài Quảng Đức đã trải qua bốn mươi chín năm trì kinh Pháp Hoa, tương đương với bốn mươi chín năm Phật thuyết pháp và cùng với ý nghĩa Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến uống tất cả danh hương. Bốn mươi chín năm ngài trì kinh Pháp Hoa, cả cuộc đời trầm mình trong giáo pháp Như Lai. Đến pháp nạn, ngài mới nguyện đem thân làm đuốc để ngọn đèn chân lý sáng tỏ. Với quá trình tu học thực sự, ngài chuẩn bị đầy đủ cho cái chết, nên chết nhẹ nhàng, thế ngồi rất đẹp, thái độ trầm tĩnh giải thoát. Hình ảnh ngài trong ánh lửa hồng là một thiên thu tuyệt tác. Vì thể hiện chân lý nên ngài trở thành bất diệt, sống mãi với thời gian. Đọc đến phẩm Dược Vương, ta nhớ đến hình ảnh bất tử của Bồ tát Quảng Đức.

Đức Phật dạy Tú Vương Hoa Bồ tát rằng tạng kinh Pháp Hoa rất cần thiết cho chúng sanh trong Diêm phù đề, có khả năng chữa hết bệnh tật của chúng sanh. Đức Phật đem phẩm này phú chúc cho Tú Vương Hoa Bồ tát phải giữ gìn, làm lợi lạc cho cuộc đời, đừng cho mất. Lời nói của Phật mới đọc qua, chúng ta nghe có vẻ không có thực. Tuy nhiên lời Phật dạy đã được Bồ tát Quảng Đức minh chứng, trở thành một hiện thực hơn tất cả sự thực nào khác trên cuộc đời. Thật vậy, việc làm của Bồ tát Quảng Đức nhằm đốt lên cho sáng thế giới vô minh tà kiến của chúng ta và quả tình nó đã sáng thật. Khi cuộc tranh đấu Phật giáo đi đến giai đoạn gay go, bế tắc không có lối thoát, với ngọn đuốc mà ngài đốt lên, cả thế giới chấn động. Mọi người cảmthấy không cần làm nữa, nhưng vấn đề nhẹ bớt. Ngọn đuốc sáng rọi vào trái tim con người. Những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới, yêu chuộng chân lý mở mắt và thế lực vô minh tự yếu.

Trái tim bất diệt mà Bồ tát Quảng Đức còn lưu lại cho chúng ta, tháp thờ ngài, con đường mang tên ngài, công hạnh của ngài còn ghi đậm trong sách vở nghiên cứu kinh Pháp Hoa trên thế giới, cũng như tấm lòng tôn kính của mọi người đều hướng về ngài. Tất cả vẫn hiện hữu sống động như một xác tín cho hành giả Pháp Hoa kiểu mẫu trong đời ngũ trược ác thế. Giáo sư Kubota nhận xét rằng ngài Quảng Đức chính là Dược Vương Bồ tát trong thời đại chúng ta vậy. Ngược lại, những người đốt thân nhưng thiếu quá trình uống dầu, hay thiếu quá trình tu học, đốt vì tham sân phiền não nên không có tác dụng.

Trở lại pháp cúng dường của Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến, chúng ta thấy ngài dùng lửa Tam muội đốt thân, nghĩa là đốt thân từ trong chánh định, không dùng lửa hồng trần bên ngoài. Lửa từ đại Định chỉ cho ngọn lửa phát xuất ở thật tánh hay bản thể. Giữa Phật và chúng sanh đồng một dạng trên bản thể. Vì vậy, ngọn lửa đốt từ bản thể, thì ánh lửa sẽ chiếukhắp mười phương, chiếu qua bản thể sự vật. Châm ngọn lửa ở bản thể, chư Phật mười phương đều tán thán. Cúng dường ở trạng thái này là cúng dường toàn thân toàn linh, cúng dường ở bản tâm, không phải cúng dường trên hiện tượng giới.

Thành tựu pháp cúng dường toàn thân toàn linh, Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến đạt được Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn Đà la ni. Đà la ni là tổng trì, hay đại Định nhen nhúm nơi lửa tâm ở bản thể. Từ bản thể thông qua các hiện tượng và các hiện tượng đều phát xuất từ bản thể. Bồ tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến và chúng ta đồng một thể. Ngài từ bản thể đi ra hiện tượng và đi thẳng vào tâm khảm của mọi người, nên tâm ta nghĩ gì thì ngài đều biết rõ, gọi là Giải nhứt thiết ngữ ngôn Đà la ni.

Thành tựu pháp cúng dường d