cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp HoaHT THÍCH TRÍ QUẢNG


Sách / Trí Quảng Toàn Tập - Quyển II - Lược Giải Kinh Pháp Hoa / Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát

Lần nghe: 87.013

 

I. LƯỢC VĂN KINH

Bồ tát Phổ Hiền dùng thần thông cùng vô lượng Bồ tát và Trời, Rồng đến núi Kỳ Xà Quật bạch Phật: "Con ở nước của Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương nghe cõi Ta bà có thuyết kinh Pháp Hoa nên cùng các Bồ tát đến đây. Cúi mong Thế Tôn nói kinh cho chúng con. Và sau khi Như Lai diệt độ làm thế nào mà được kinh Pháp Hoa”.

Đức Phật đáp: "Sau khi Như Lai diệt độ, người nào muốn được kinh Pháp Hoa phải hội đủ bốn điều kiện: Được chư Phật hộ niệm,
trồng cội công đức, vào trong chánh định, phát tâm cứu tất cả chúng sanh.

Bồ tát Phổ Hiền bạch Phật: "Năm trăm năm sau trong đời ác trược, nếu có người thọ trì kinh Pháp Hoa, con sẽ giữ gìn họ, làm cho họ được an ổn. Ai đọc tụng kinh này, con sẽ cỡi voi trắng cùng chư đại Bồ tát hiện ra cùng chung đọc tụng. Người được thấy thân con lòng rất vui mừng, thêm tinh tấn và được Tam muội”.

"Năm trăm năm sau trong đời ác trược, nếu có người đọc tụng, biên chép kinh này và muốn tu tập, phải một lòng tinh tấn trong hai mươi mốt ngày. Mãn hai mươi mốt ngày, con sẽ cỡi voi trắng sáu ngà cùng vô lượng Bồ tát hiện ra trước người đó nói pháp, chỉ dạy họ được lợi ích và cho chú Đà la ni. Được chú này thì không có ma quỷ nào có thể hại được”.

Bồ tát Phổ Hiền đọc xong bài chú, ngài bạch Phật tiếp: "Ai thọ trì đọc tụng, ghi nhớ chơn chánh, hiểu nghĩa kinh, đúng theo đó tu hành thì người đó tu hạnh Phổ Hiền, ở nơi các Đức Phật trồng cội lành và được Như Lai lấy tay xoa đầu. Khi mạng chung, được ngàn Đức Phật tiếp dẫn và sanh lên cung Trời Đâu suất ở chung với Bồ tát Di Lặc. Nếu chỉ biên chép, khi mạng chung sẽ được sanh lên Trời Đao lợi. Thế Tôn, con xin đem sức thần thông thủ hộ kinh PhápHoa. Sau khi Như Lai diệt độ, con sẽ làm chokinh này được lưu truyền rộng rãi trong Diêm phù đề”.

Đức Thích Ca tán thán Bồ tát Phổ Hiền: "Hay thay, ông có thể hỗ trợ kinh này, làm cho chúng sanh an vui lợi ích. Này Phổ Hiền, ai thọ trì, đọc tụng, tu tập, biên chép kinh Pháp Hoa, nên biết người ấy đã thấy Phật Thích Ca, nghe Phật Thích Ca nói pháp, được Phật Thích Ca xoa đầu và lấy y trùm thân. Người như thế không còn ham thích những vui sướng của thế gian, kinh sách ngoại đạo, không gần gũi kẻ ác, không bị ba món độc làm hại, có thể tu hạnh Phổ Hiền.

"Năm trăm năm sau khi Phật diệt độ, thấy người thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết rằng người này không bao lâu sẽ đến đạo tràng phá các ma thành Vô thượng giác, chuyển pháp luân. Thấy người thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa mà chê bai vạch lỗi lầm của họ, sẽ mắc quả báo thực đáng ghê sợ. Thấy người thọ trì kinh này phải đứng dậy tiếp rước như kính Phật ”.

Phật nói phẩm này, hằng hà sa Bồ tát được muôn ức Đà la ni, chư Bồ tát đông vô số được đầy đủ hạnh Phổ Hiền.

 

II. GIẢI THÍCH

Sau khi Phật giới thiệu cách hành đạo hoàn toàn tự tại của các Bồ tát Dược Vương, Dược Thượng, Diệu Âm, chúng ta tự nghĩ các ngài đầy đủ thần thông biến hóa, mới thừa khả năng giáo hóa chúng sanh Ta bà. Còn thân phận chúng ta thấp kém, không làm nổi như các ngài thì sao. Chẳng lẽ Phật đưa ra cho chúng ta những việc làm của các Bồ tát tiêu biểu lợi ích cho đời, mà chúng ta lại hoàn toàn không liên hệ gì đến hay sao. Tuy nhiên, bắt chước các ngài nhập cuộc với đời, trong khi hành trang của chúng ta là hai tay không, quả thực cả một vấn đề!

Nhìn thấy vô số khó khăn của hành giả tu Bồ tát đạo sau Phật Niết bàn, Bồ tát Phổ Hiền tạo điều kiện khuyến khích hành giả ở Ta bà phát tâm Đại thừa tu Bồ tát đạo; vì sau khi Phật Niết bàn, vấn đề tu hành rất khó. Ngài Phổ Hiền nhắc nhở chúng ta sau Phật diệt độ năm trăm năm, vấn đề hoằng truyền Pháp Hoa lại càng khó hơn. Hành giả đời sau gặp khó thường dễ nản lòng, bỏ cuộc. Phải có Bồ tát lớn như ngài Phổ Hiền hiện thân khích lệ, chúng ta mới tu được.

Bồ tát Phổ Hiền kết thúc hội Pháp Hoa không khác Bồ tát Phổ Hiền kết thúc hội Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm là nhân hạnh Phổ Hiền và kinh Pháp Hoa là quả đức của Phổ Hiền. Muốn hiểu quả phải căn cứ trên nhân, nghĩa là chúng ta cần hiểu rõ Phổ Hiền Bồ tát tu nhân hạnh như thế nào trong kinh Hoa Nghiêm, để dẫn đến hiện hữu một quả đức siêu tuyệt của Bồ tát Phổ Hiền ở kinh Pháp Hoa.

Nhân hạnh của Phổ Hiền Bồ tát thể hiện rõ nét trong phẩm Nhập Pháp giới cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Nhập Pháp giới rất dài, ở đây chúng tôi chỉ tóm ý sơ lược để nêu lên những nét chính liên quan đến hạnh Phổ Hiền. Muốn nắm được vấn đề, người đọc cần thông suốt ý nghĩa kinh Hoa Nghiêm.

Phẩm Nhập Pháp giới có hai phần, phần một diễn tả trên đường cầu đạo, Thiện Tài gặp Bồ tát Văn Thù trước. Văn Thù tiêu biểu cho trí tuệ, nên khởi đầu chúng ta tu học, đến với Phật bằng tri thức. Không có tri thức không vào đạo được. Nhờ tri thức rọi sáng tâm, nếu không chúng ta dễ thành mê tín tà đạo.

Thiện Tài gặp được Văn Thù cũng có nghĩa Thiện Tài là người có tri thức, từng bước thâm nhập giáo lý Phật, tri thức tự phát triển. Với trí tuệ Văn Thù hướng dẫn, Thiện Tài tiếp xúc với tất cả tầng lớp thế gian, gặp Đức Vân và Hải Vân Tỳ kheo. Thiện Tài nhìn giới xuất gia qua trí tuệ của Văn Thù thấy Đức Vân, Hải Vân tuyệt diệu, đức hạnh sánh trời cao, trí như bể cả. Ngược lại, nhìn bằng đôi mắt hiểu biết của trần tục thếgian, không qua sự giáo dưỡng của Văn Thù, chắc chắn vào chùa chúng ta không thể nào tìm thấy hình ảnh đẹp của Đức Vân hay Hải Vân Tỳ kheo.

Chẳng những người xuất gia tuyệt diệu, quay lại cuộc đời vào chợ học đạo gặp Di Già lão luyện cũng trở thành hiền lương dưới mắt Thiện Tài; vì Thiện Tài luôn mang sẵn đôi kính trí tuệ của Văn Thù. Riêng tôi, cảm nhận được hình ảnh đẹp của Di Già dưới mắt Thiện Tài. Trên bước đường hành đạo, tôi cũng từng gặp những người xảo trá trong xã hội; nhưng họ rất hiền dịu với tôi và phát tâm đóng góp Phật sự không thua kém gì những người hiền lành khác. Thiết nghĩ bất cứ người nào cũng có mặt tốt. Đem cái tốt của họ vào lòng, chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng giải thoát. Đừng nên nhìn bề xấu của người, vì chỉ nghĩ hoài mặt xấu ác này, chúng ta tự khổ thôi.

Sau khi Thiện Tài đi một vòng thế giới sanh diệt, tiếp xúc với mọi giới xong, Thiện Tài được trí tuệ Văn Thù soi sáng dẫn đến gặp Bồ tát Quan Âm. Cũng có nghĩa là khi bước vào ngưỡng cửa Đại thừa, hành giả tập nâng mình lên thành mẫu người sống vì mọi người. Tâm hành giả mở rộng, mới bắt gặp tâm hồn rộng lớn của Quan Âm. Khác với trước kia, hành giả tham lam khổ đau, thường yêu cầu Quan Âm cứu mà ngài vẫn mãi mãi ở đâu đâu. Nay qua một quá trình tu dưỡng, tâm hành giả phóng khoáng, không cầu xin nữa, ngài vẫn đến với hành giả như pháp lữ đồng hành.

Sau khi Thiện Tài kết hợp lòng đại bi của Quan Âm và trí tuệ của Văn Thù mới diện kiến được người thừa kế của Đức Thích Ca là ngài Di Lặc Bồ tát. Di Lặc giữ tạng báu Như Lai, mới đủ tư cách mở cửa Tỳ Lô Giá Na lâu các cho Thiện Tài vào đảnh lễ Phật Pháp thân thường trú. Gặp Bồ tát Di Lặc và thâm nhập Tỳ Lô Giá Na tánh, hành giả chấm dứt giai đoạn ở đậu ăn nhờ. Hành giả đã hiểu đạo Phật qua giáo lý của Phật để lại và hiểu kinh nghiệm sống trên năm mươi hai chặng đường cầu đạo. Tiến qua giai đoạn hai là giai đoạn chính mà hành giả phải tự phát triển mình, thực hiện những việc của Phật và chư Bồ tát đã thành tựu. Đến đây chính bản thân hành giả lại chạm trán với vấn đề nan giải khác. Bồ tát Di Lặc khuyên Thiện Tài đến gặp Văn Thù một lần nữa.

Văn Thù ở giai đoạn một khác với Văn Thù ở giai đoạn hai. Giai đoạn một, hành giả gặp Văn Thù để sử dụng trí tuệ rọi vào giáo lý Phật, vào cuộc sống bản thân và xã hội. Giai đoạn hai, hành giả cũng gặp Văn Thù để trang bị cho mình trí tuệ vô lậu thấy biết sự diễn tiến của sự vật bằng trực giác của bản tâm thanh tịnh. Văn Thù đứng cách một trăm mười do tuần vươn tay xoa đảnh Thiện Tài đồng tử, khác với Văn Thù ở giai đoạn một luôn hiện hữu trước mặt. Nghĩa là giai đoạn một, cần có Thầy ở bên cạnh để dìu dắt. Giai đoạn hai, dù ở cách xa Thầy muôn trùng vạn dặm, hành giả vẫn nghe và nhận được pháp âm vi diệu của Thầy truyền qua bản tâm thanh tịnh.

Khởi đầu, Thiện Tài được Văn Thù đưa vào Pháp giới gặp Đức Vân Tỳ kheo và cuối cùng Văn Thù xoa đảnh Thiện Tài, đưa Thiện Tài nhập Pháp giới để gặp Phổ Hiền Bồ tát. Thiện Tài không thấy Phổ Hiền bằng mắt nhưng thấy bằng tâm, nhờ quán sát Phổ Hiền hạnh. Thiện Tài thu nhiếp tất cả pháp trong vũ trụ cộng với thiện căn công đức tích lũy nhiều đời, thấy được thân của Phổ Hiền Bồ tát trùm khắp Pháp giới. Ba đời chư Phật đều nằm trong lỗ chân lông của Phổ Hiền Bồ tát. Phổ Hiền có khả năng phân thân mười phương và thu gọn lại trong một lỗ chân lông mà Thế Tôn dù có tu vô số kiếp cũng không vượt ra khỏi lỗ chân lông của Phổ Hiền.

Đọc đến ý này của phẩm Nhập Pháp giới chúng ta thấy quá khó, ngoài sức hiểu thông thường. Cũng có người cho rằng nó hoang đường giả tưởng. Theo tôi, đây là thế giới của hành giả tu chứng. Dùng trí phàm phu phân biệt giải thích bằng ngôn ngữ, chúng ta hoàn toàn tuyệt phần, chỉ đứng ngoài lề, không thể nào thâm nhập thế giới của Phổ Hiền. Trên bước đường tu, tùy tâm chúng ta thanh tịnh đến mức độ nào, sẽ hiểu mang máng lời Phật dạy đến mức đó.

Từ Phổ Hiền Bồ tát rộng lớn trùm khắp Pháp giới và thu nhiếp thành Phổ Hiền Bồ tát hiện trong đầu sợi lông, thuyết pháp cho hành giả muốn tu Bồ tát đạo, Phổ Hiền đều truyền pháp âm vào tận nguồn tâm thức của muôn người cầu đạo đến vô tận thời gian.

"Sát trần tâm niệm khả sổ tri, đại hải trung thủy khả ẩm tận, hư không khả lượng phong khả kế, vô năng thuyết tận Phật công đức”. Nghĩa là Phổ Hiền phân thân khắp Pháp giới, kiểm soát được tất cả thế giới chẻ thành bụi vi trần. Ngài uống cạn nước bốn biển, mà tất cả chúng sanh trong bốn biển không biết mình nằm trong bụng Phổ Hiền. Ngài đo lường được không gian và gió. Những việc khó làm như vậy, Phổ Hiền Bồ tát thấy hoàn toàn đơn giản.

Chỉ riêng một điều duy nhất khó làm, là không thể nào nói cho cùng tận công đức của Như Lai. Thật vậy ngày nay, chúng ta dễ hiểu điều này. Công đức của Như Lai không thấy được, nhưng lớn lao không tưởng nổi. Ảnh hưởng của Ngài khắp năm châu, xuyên suốt dòng thời gian hàng mấy ngàn năm. Cho đến hiện tại, hàng tỷ người còn lễ bái cầu nguyện Phật. Sách vở kinh điển lý giải lời Ngài dạy nhiều không kể xiết.

Ý nghĩa công đức Như Lai vô hình, diễn nói mãi không cùng tận mà Phổ Hiền Bồ tát cho chúng ta biết, đã kết thúc phẩm Nhập Pháp giới. Và Bồ tát Phổ Hiền mở ra cánh cửa gọi là Phổ Hiền hạnh môn. Nhập Phổ Hiền hạnh môn để tu Phổ Hiền hạnh nguyện, sẽ hiểu được thế nào là công đức, căn lành. Tuy nhiên, muốn tu Phổ Hiền hạnh ở chặng đường hai, đương nhiên hành giả phải ngộ Tỳ Lô Giá Na tánh.

Phổ Hiền hạnh quá rộng, nhưng thu gọn lại thành mười hạnh nguyện chúng ta thường đọc tụng hàng ngày. Tôi đã đọc hàng trăm ngàn lần mười hạnh nguyện Phổ Hiền. Nhưng dĩ nhiên nhập Phổ Hiền hạnh môn không giản dị như chúng ta đọc; vì toàn bộ kinh Hoa Nghiêm gồm bốn mươi phẩm, chúng ta rút gọn lại, chỉ tu phẩm Nhập Pháp giới cuối cùng. Và trong phẩm Nhập Pháp giới, chúng ta lại đi tắt thêm một lần nữa, chỉ còn mười đại nguyện.

Lộ trình tu tắt này chắc chắn rất khó và rất nguy hiểm. Chúng ta chỉ đọc suông mười đại nguyện, hoặc mang sử dụng mười đại nguyện không có kết quả sẽ phạm tội phá pháp. Ý nghĩa của mười hạnh nguyện Phổ Hiền mà tôi lý giải dưới đây tạm ví như mười món đồ giả. Tuy hàng giả, nhưng nương theo đó để chúng ta hình dung hàng thiệt. Cũng như Phật Thích Ca thường nói giáo lý của Ngài là ngón tay chỉ mặt trăng.

Trên bước đường tu, chúng ta còn mang thân ngũ uẩn, khó vượt qua bức tường Thức ấm. Và quá trình tu để khỏi lệ thuộc Thức ấm cũng không đơn giản. Tùy theo tầm nhìn, độ thấy, sức vận dụng của chúng ta trong khi tu tập đến mức độ nào, chúng ta sử dụng mười hạnh nguyện Phổ Hiền đến mức độ đó. Theo tôi, những người tu hành ví như người bán đồ chất lượng không tốt. Người đắc đạo mới có đồ tốt thật. Tuy món đồ không tốt, cũng có nhiều thứ bậc cao thấp khác nhau. Bao giờ chúng ta bước vào Tỳ Lô Giá Na lâu các, diện kiến được Phổ Hiền Bồ tát, mới thành tựu mười hạnh Phổ Hiền thật.

Từ Phổ Hiền hạnh rộng lớn trùm khắp Pháp giới, thu hẹp thành mười hạnh Phổ Hiền và từ mười hạnh Phổ Hiền lại triển khai thành vô cùng tận. Kinh Hoa Nghiêm mở ra cho thấy thế giới tâm của chính chúng ta thực hoàn toàn linh hoạt biến hóa không lường.

Mười hạnh nguyện là con số biến, không phải là pháp cố định, không thể tụng suông mà phải kèm theo sự thể hiện Phổ Hiền hạnh trong cuộc sống của hành giả.

1. Hạnh nguyện thứ nhất: Lễ kính chư Phật

Khởi đầu tu thực hiện hạnh thứ nhất của Phổ Hiền Bồ tát, tôi nghĩ đơn giản rằng có bao nhiêu danh hiệu Phật, tôi lạy đủ không sót; nhưng khi lạy xong, cũng không thấy Phật. Lạy nhiều lần, cũng không thấy Phật. Tôi tự biết mình chưa nhập Phổ Hiền hạnh môn, chưa ngộ Tỳ Lô Giá Na tánh.

Khi chúng ta còn đứng ngoài thế giới Phổ Hiền để lạy, lạy Phật mà tâm hồn chạy theo vọng trần ở tận đâu đâu thì càng lạy Phật, chúng ta càng bóp chết niềm tin. Đó là điều nguy hại tối kỵ đối với người tu hành. Chúng ta phải dừng ngay phương tiện này lại. Từ đó, tôi trở lại tìm xem Văn Thù dạy thế nào, tôi tìm được hai cách lạy Phật tương đối có kết quả.

Cách lễ Phật thứ nhất bằng lòng thành chúng ta đến độ cao, niềm tin của chúng ta hướng trọn vẹn về Phật tiêu biểu qua đôi tay chắp giữa ngực. Chúng ta đưa tay lên trán gợi lên ý niệm cầu Vô thượng chánh giác, mong trí Văn Thù rọi sáng tâm để chúng ta bắt gặp hình ảnh Phật mà lạy.

Nếu không thấy Phật, chúng ta làm thế nào lạy được. Phật đã nhập diệt, còn đâu cho chúng ta lạy. Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời không có cho chúng ta lạy và Đức Phật thường trú thì chúng ta không biết ở đâu. Riêng tôi, trong quá trình lạy Phật giấy, Phật gỗ, Phật đá, đến độ chán không muốn lạy. Nhưng từ lòng chí thành cao độ phát xuất ở một điểm thời gian nào đó, tôi phát hiện được những hiểu biết nằm ngoài suy tư của con người.

Từ tâm và trí hợp nhất thành một, dẫn chúng ta đến lễ Phật theo mô hình thứ hai thuộc lý Bát nhã: "Năng lễ, sở lễ tánh không tịch”. Thoạt nhiên một bữa nào, bất chợt chúng ta đứng trước tượng Phật, lạy Phật; nhưng tượng vụt biến mất, Phật không còn và cả ta cũng không có. Đó là bước đầu kinh diễn tả rằng Văn Thù Sư Lợi dẫn chúng ta vào bể pháp tánh. Từ tánh Không này, hành giả vui sướng cảm nhận mọi vật thế gian hoàn toàn không. Tuy nhiên cần lưu ý đây là pháp Không của người bước vào thế giới tu chứng, đạt được niềm vui kỳ diệu, không phải là Không của con người tuyệt vọng rớt vào địa ngục A tỳ.

Từ tâm Không và vật Không ở cách lễ Phật thứ nhì, đưa hành giả đi vào thế giới Phổ Hiền để lạy Phật theo ngài Phổ Hiền: "Nhứt thân phục hiện sát trần thân, nhứt nhứt biến lễ sát trần Phật”. Nghĩa là trong Pháp giới mười phương, tất cả Phật nhiều như bụi trần đã ra đời thành Vô thượng Chánh đẳng giác, hay chưa ra đời còn trong tâm niệm chúng ta, đồng lúc Phổ Hiền nhìn thấy đủ và Phổ Hiền hiện đủ thân trước tất cả người đó để đảnh lễ không sót.

Tất nhiên ngài không còn dùng phàm thân đứng lên lạy xuống để lễ. Ngài sử dụng lực phát xuất từ bản tâm thanh tịnh đi vào Pháp giới lễ ba đời các Đức Phật, trong đó có Pháp thân của chúng ta, giúp cho Pháp thân chúng ta lớn lên. Phổ Hiền là một vị cổ Phật hiện thân để tạo điều kiện thành Phật cho các vị lai Phật.

Lễ Phật của Phổ Hiền rất đặc biệt, nhắm vô Phật vị lai. Ngày nay chúng ta tu được là nhờ giữa Phổ Hiền và chúng ta có sự tương quan như vậy. Trong lúc chúng ta lạy ngài bằng giấy, thì Phổ Hiền lạy Pháp thân của chúng ta, không lạy bộ mặt khó thương của chúng ta.

Bồ tát Phổ Hiền nhập Pháp giới, đứng trong tâm trạng từng người một mà cảm thông nhịp nhàng từ thấp lên cao, ngài lễ ba đời các Đức Phật mới trọn vẹn. Phổ Hiền nhìn xuống chúng sanh thấy từng lớp người tiến về Vô thượng đẳng giác, chúng sanh hôm nay là Nhị thừa,ngày mai là Bồ tát và ngày mốt là Phật. Riêng tôi, cảm nhận được những người trong pháp hội hôm nay, nhiều đời đã được tôi đảnh lễ. Giờ phút này mới hiện diện nơi đây nghe pháp tu học được.

Dưới lăng kính Phổ Hiền mỗi ngày đều có người mới phát tâm sẽ thành Phật, hay đang thành Phật do ngài giáo hóa. Ngược lại, theo tâm phân biệt quan sát sự vật, không bao giờchúng ta thấy có Phật, chỉ có chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não. Và ta tự cô lập mình, đến ngày nào đó không còn đất dungthân.

Cách lễ Phật theo Phổ Hiền thuộc trình độ tu chứng của Bồ tát đã ngộ Tỳ Lô Giá Na tánh, điều động Trí thân thấu suốt tất cả hiện tượng, đến độ trả vật về hư không, hội nhập Pháp giới. Đạt đến cảnh giới hay khả năng này, thuộc lý sâu của đại Bồ tát, nằm ngoài sự lạm bàn của phàm phu chúng ta.

Riêng chúng ta khi chưa nương được lực Phổ Hiền, không phân thân khắp mười phương được, thì chúng ta hiểu thế nào và lễ Phật bằng cách nào. Đối với bản thân tôi, khi tu hạnh lễ Phật, tôi tạo cho mình ngã rẽ khác. Theo tôi, chúng ta là người có tâm thức, nên trở lại thân phận con người có tâm thức tu. Tổ thường dạy là "Đại dụng tại tiền, quyền tại thủ”, nghĩa là chúng ta phải biết sử dụng những phương tiện có sẵn trong tay. Phần lễ Phật trong Pháp giới như ngài Phổ Hiền thuộc về lý tánh tuyệt đối, chúng ta chưa nắm bắt và vận dụng được.

Từ ý nghĩa Phật trong Pháp giới và ngài Phổ Hiền lễ Phật trong Pháp giới, trở lại thực tế tôi hiểu Phật là bậc giác ngộ sáng suốt. Vì thế, tôi sử dụng phương tiện đảnh lễ người sáng suốt giác ngộ là những thiện tri thức trầm mình trong giáo lý Phật Đà. Tuy chưa là Phật, nhưng họ là hoạt Phật, tức Phật sống. Chúng ta kính lễ những ông Phật này, thay vì lễ ông Phật bằng cốt. Trên bước đường tha phương học đạo, có bao nhiêu người đắc đạo hay chưa đắc đạo, có bao nhiêu lý thuyết, kinh, luận của Tổ chú sớ là những bộ óc lớn, chúng ta đều đến kính lễ cầu học. Những vị này ra đời thay thế Phật thuyết minh, làm sống dậy giáo lý trong sáng của Đức Thích Ca lợi ích cho chúng hữu tình. Nhờ đó, Phật đạo tồn tại mãi trên thế gian cho người tu hành. Đảnh lễ thiện tri thức không đủ ba mươi hai tướng tốt như Phật, nhưng có được một, hai tướng hảo hay năm, bảy oai nghi, cho đến chỉ có một điều thiện nhỏ như vi trần đều đáng quý.

Ngoài ra, tu hạnh lễ kính chư Phật còn nhắc nhở chúng ta kính trọng người. Không kính trọng người, mà đến với người là điều bất hạnh cho chính ta. Chúng ta ghi nhớ tấm gương khiêm tốn từ ái của Đức Phật. Ngài là bậc trí tuệ cao tột ở trên nhìn xuống, nhưng không bao giờ khinh ai. Khi còn là Thường Bất Khinh Bồ tát, Ngài đã lập nguyện không dám khinh chê ai.

Hành giả tu hạnh lễ kính chư Phật, không những lạy tất cả Phật quá khứ, hiện tại đang thuyết pháp, mà tất cả Phật vị lai là những người chung quanh ta có Phật tánh sẽ thành Phật. Lễ Phật bằng tâm niệm tương quan kính trọng lẫn nhau như vậy, sẽ tạo thành một Phật quốc nơi đó tất cả mọi người đều là Phật. Tất cả những người liên hệ đều hiện hữu trước mặt để chúng ta lạy, nhưng lạy Phật tánh của họ, không phải lạy xác thân tội lỗi của họ. Đó là mô hình lạy Phật trên cuộc đời và lạy Phật trên Pháp giới. Nghĩa là từ phương tiện chúng ta tu để tiến đến chân thật và từ chân thật trở về hành đạo khai ra phương tiện.

2 - Hạnh nguyện thứ hai: Xưng tán Như Lai

Phổ Hiền Bồ tát nói với Thiện Tài rằng dù có mượn lưỡi của Biện Tài Thiên nữ để ca ngợi công đức Như Lai đến tận vị lai kiếp cũng không hếtđược. Điều này khiến chúng ta suy nghĩ hạnh của Phật như thế nào mà xưng tán mãi không cùng tận.

Như chúng ta đã biết Phật ngộ Tỳ Lô Giá Na tánh và sống dưới dạng chơn tánh. Từ chơn tánh, Ngài khởi lên sanh diệt. Các pháp sanh diệt trong hiện tượng giới thì vô cùng tận. Đức Phật hiện hữu trong vô cùng tận đó, cuộc đời Ngài thuyết pháp tu hành, giáo dưỡng không nằm trong giới hạn tám mươi năm trụ thế.

Đức Phật dưới nhãn quan Tiểu thừa chấm dứt từ lúc Ngài Niết bàn. Trái lại, tinh thần Đại thừa nhìn thấy Phật tại thế giáo hóa dọc theo triền sông Hằng. Và hiện tại, khắp năm châu không nơi nào không có giáo lý Phật soi sáng cho người nghiên cứu, suy tư, tu hành. Vô hình trung, đức hạnh của Ngài vẫn tiếp tục giáo hóa chúng sanh, nên kinh Đại thừa khẳng định việc ca ngợi Phật đức không thể cùng tận. Nhờ khen ngợi Phật đức sâu dày, Pháp thân của chúng ta lớn dần lên.

Nương vào Phổ Hiền lực để thấy Phật và khen Phật, thì ở trần gian này có bao nhiêu chúng sanh, có bấy nhiêu Phật. Phật này là Phật tâm. Phật tâm không thể xóa được, còn Phật đá ở Ấn Độ thì bị Hồi giáo đập bể dễ như không. Phật tâm có hoạt tính vô cùng, rọi sáng Pháp giới, truyền thẳng đến từng chúng sanh gọi là Phật tâm vô xứ bất từ bi. Từ người nghèo nhất đến người giàu nhất, từ người giỏi đến người dở, Phật không bỏ ai.

Tu hạnh xưng tán Như Lai, chúng ta không chỉ khen ngợi ông Phật đã chết, nhưng khen ngợi Phật Pháp thân thường trú đang giáo hóa chúng ta, đang chỉ đạo hàng tỷ người trên thế giới. Tuy nhiên, ai là người có tư cách để khen ngợi Đức Như Lai. Vấn đề tư cách của người khen ngợi mới quan trọng. Trên bước đường tu, chúng ta được những người tài cao đức trọng khen, chúng ta mừng, sự đánh giá phê phán của những vị này mới có giá trị. Ngược lại người ác xấu chê, chúng ta càng mừng, mà họ khen, chúng ta càng sợ.

Đạo Phật tồn tại và phát triển lâu dài mãnh liệt nhờ những thuyết minh trong sáng để mọi người hiểu và vận dụng được trong cuộc sống, tiến bước trên con đường Thánh thiện. Theo tôi, những sáng thuyết giải thích đó mới thực sự thể hiện hạnh nguyện xưng tán Như Lai.

Riêng đạo Phật Việt Nam hiện hữu vững chắc trong lòng dân tộc cũng nhờ các bậc cao Tăng thạc đức đóng góp thật nhiều lợi ích cho dân tộc. Đạo hạnh của các ngài đã làm sáng danh uy đức của Phật. Như vậy, lý giải của các Tổ sư dùng cho muôn đời về sau hoặc nếp sống mô phạm của các ngài kết thành tư cách xứng đáng để ca ngợi Phật. Còn những người tội lỗi thường tình có gì để nói. Chẳng những lời khen của họ không có giá trị, mà tác dụng ngược lại thành phỉ báng Phật; vì cuộc sống, hành động tệ ác của họ hoàn toàn trái ngược những gì họ ca ngợi Phật.

Theo ngài Phổ Hiền, chúng sanh có mượn biện tài Thiên Nữ ca ngợi công đức Như Lai cũng không hết được. Chỉ có cách nhập Pháp giới mới ca ngợi phổ cập ba đời các Đức Phật, nghĩa là tổng hợp được quá khứ vào hiện tại và đưa hiện tại tiếp tục diễn tiến cho vị lai sử dụng. Thí dụ những sở đắc tu chứng của riêng tôi triển khai từ tư tưởng của ngài Thiên Thai, Hiền Thủ và mang nhập vào dòng thác tư tưởng của Phật. Tất cả dồn lại cho con cháu ta sử dụng. Dưới kiến giải của tôi, nhập Pháp giới như vậy, đưa vào dòng thác trí tuệ như vậy và chỉ có cách đó mới thể hiện sự ca ngợi Phật phổ cập ba đời.

Hành giả nhập vào Pháp giới được, thì sống nói ít, chết nói nhiều. Thật vậy, các bậc chân tu lúc sanh tiền ít ai biết đến, nhưng tịch diệt rồi, được tưởng nhớ nhiều hơn. Cũng như Đức Phật lúc trụ thế, người ca ngợi Ngài không nhiều như ngày nay.

Nhập Pháp giới hiểu chân lý không mang ý nghĩa nào khác hơn là những gì trong thời Phật giáo Nguyên thủy, trong thời Phật giáo phát triển, trong ngày nay và trong tương lai là một, cùng trôi chảy trong dòng trí tuệ Như Lai. Kinh Hoa Nghiêm thường diễn tả một là tất cả và tất cả là một. Nhận chân ý nghĩa ca ngợi Như Lai dưới dạng đó, chúng ta cứ sống bình thản, phát huy trí tuệ trầm mặc lặng lẽ, mà ca ngợi đầy đủ các Đức Phật ba đời.

3 - Hạnh nguyện thứ ba: Quảng tu cúng dường

Cúng dường như thế nào để Phổ Hiền xem là cúng dường rộng lớn. Theo ngài Phổ Hiền, chúngta dùng tràng hoa, hương thơm, thức ăn, tàng lọng, v.v… nhiều như núi Tu Di để cúng dường. Cho đến dùng mây tràng hoa hay đốt đèn tim lớn như núi Tu Di, dầu trong đèn nhiều như bể cả, để diễn tả những phẩm vật cúng dường lớn nhất, vượt khả năng của chúng ta. Nhưng nếu đem so những thứ đó với pháp cúng dường, thì nó không bằng mộtphần trăm, một phần ngàn… muôn ức na do tha.

Những việc cúng dường to lớn như vậy mà Phổ Hiền Bồ tát cho rằng không thấm vào đâu, gợi lên lời cảnh tỉnh về việc làm vô nghĩa của chúng ta. Trên thực tế lịch sử chỉ có Tổ Đạt Ma mới dám tạt nước lạnh vào mặt vua Lương Võ Đế, chỉ rõ việc làm vô ích của ông khi ông hãnh diện với bảy mươi hai cảnh chùa mà ông xây và ba ngàn Tăng chúng mà ông độ.

Theo ngài Phổ Hiền, như pháp tu hành mới thực sự thể hiện pháp cúng dường và có giá trị. Còn phẩm vật cúng dường có hay không, không thành vấn đề. Đức Phật có tự thọ dụng thân, không cần thức ăn vật chất. Chỉ vì lòng từ bi đối với những đệ tử còn phải sống với tha thọ dụng thân, mà Ngài nhận phẩm vật cúng dường.

Hành giả đúng như pháp tu hành mới giữ gìn được mạng mạch của Phật pháp. Đức Phật Thích Ca hiện hữu trên cuộc đời như một biểu tượng cao quý, mang lợi ích cho người đ