cool hit counter

I. LƯỢC VĂN KINH

Lúc ấy, trong thành Tỳ Da Ly có trưởng giả Duy Ma Cật đã từng cúng dường vô lượng Phật, được Vô sanh pháp nhẫn, biện tài vô ngại, du hý thần thông, chứng được các môn tổng trì, hàng phục ma oán, thấu rõ các pháp môn thâm diệu, thông đạt các pháp phương tiện, v.v…

Vì muốn độ người, ngài dùng phương tiện thị hiện làm trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly. Tuy làm cư sĩ mà giữ gìn giới hạnh thanh tịnh của Sa môn, ở tại gia mà không đắm nhiễm ba cõi, thị hiện có vợ con, nhưng thường tu phạm hạnh, v.v… Nếu ở trong hàng trưởng giả, cư sĩ, Bà la môn, Sát đế lợi, đại thần, vương tử, Phạm Thiên, ngài đều là bậc tôn quý nhất và dùng vô lượng phương tiện làm cho chúng sanh đều được lợi ích.

Ngài dùng phương tiện hiện thân có bệnh. Các vị quốc vương, đại thần, cư sĩ, Bà la môn cùng vương tử, vô số người đều đến thăm bệnh. Nhân dịp này, ngài nói pháp: "Này các ông, cái huyễn thân này thật là vô thường. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não, bệnh hoạn. Người có trí không bao giờ nương cậy nó. Xét cho kỹ thân này như bọt nước, như ánh nắng dợn giữa đồng, do lòng khát ái sanh, như cây chuối không bền chắc, như cảnh chiêm bao, như tiếng vang, như mây nổi, như điện chớp, sanh diệt mau lẹ không dừng. Thân này vốn Không, thân này như rắn độc, như kẻ cướp, như xóm nhà không người, do ấm, giới, nhập mà thành. Các ông hãy nên nhàm chán cái thân này, đừng tham tiếc nó. Phải nên ưa thích thân Phật, vì thân Phật là Pháp thân do vô lượng công đức trí tuệ sanh, do ba mươi bảy Phẩm trợ đạo sanh, mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng sanh… Do vô lượng pháp thanh tịnh sanh ra thân Như Lai. Các ông muốn được thân Phật, đoạn tất cả bệnh của chúng sanh phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác”.

Sau khi nghe pháp, vô số người phát tâm Vô thượng Bồ đề.

II. GIẢI THÍCH

Sau khi dạy cách thức kiến tạo Tịnh độ nhân gian, Phật giới thiệu cư sĩ Duy Ma Cật bệnh sắp chết trong phẩm này. Tại sao cư sĩ Duy Ma lại xuất hiện trong phẩm Phương tiện và phương tiện này mang ý nghĩa gì. Câu trả lời chính là nội dung của phẩm này, sẽ kiến giải dưới đây.

Thông thường, chúng ta hay chạy tội bằng cách đổ thừa sự sai lầm của mình là phương tiện. Hoặc khi cần biện minh cho việc nói láo, chúng ta cũng cho đó là phương tiện. Phương tiện của Phật không thể hiểu như vậy.

Phương chỉ cho không gian, tiện là thời gian hay tiện nghi. Phương tiện là những gì chúng ta thiết đặt, sắp xếp khác nhau, tùy theo hoàn cảnh và thời gian để đưa đến cứu cánh giải thoát.

Khi Phật tại thế, Ngài tùy theo đối tượng, tùy thời, tùy chỗ, giảng pháp không đồng nhau. Các pháp sai biệt là pháp phương tiện. Vì để đáp ứng nhu cầu của nhiều người, ở nhiều trình độ trong những hoàn cảnh và thời gian khác nhau, pháp phương tiện trở thành vô số. Kinh thường ghi rằng tám mươi bốn ngàn pháp môn tu là phương tiện giúp hành giả đạt cứu cánh giải thoát Niết bàn. Có thể nói phương tiện ví như dụng cụ và mục tiêu là cứu cánh.

Phật và chư Bồ tát đã giải thoát, sử dụng giáo pháp như phương tiện để giáo hóa chúng sanh, khác với người chưa đắc đạo dùng pháp môn tu như phương tiện để giải thoát.

Vấn đề phương tiện cũng được đề cập trong kinh Pháp Hoa phẩm thứ 2 theo đó, Pháp thân Phật bất sanh bất diệt phải hiện thân con người tu đắc đạo mới chỉ cho chúng ta thấy được vị Phật vĩnh hằng để hướng tâm về. Phật sanh diệt Thích Ca Mâu Ni ở trên cuộc đời là Phật phương tiện dẫn chúng ta đến cứu cánh quy ngưỡng Đức Phật hằng hữu bất tử.

Ngoài ra, kinh Pháp Hoa cũng chỉ rõ giáo pháp Phật ứng với ba trình độ Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, nên từ Nhất Phật thừa chân thật, Ngài phải khai phương tiện thuyết Tam thừa. Trở về kinh Duy Ma, chúng ta quan sát xem phương tiện được diễn tả như thế nào.

Duy Ma Cật, một tên được dịch theo âm chữ Phạn, nếu dịch theo nghĩa, ngài còn có tên là Tịnh Danh. Duy Ma cư sĩ được xem là phương tiện của Phật khi ông xuất hiện trên cuộc đời, một phương tiện thể hiện qua cuộc sống thật của con người trong xã hội và cũng nhằm mục tiêu chứng minh Bồ tát hạnh mà Phật Thích Ca tu trong quá khứ và nay Duy Ma thể hiện Bồ tát hạnh trong hiện tại. Nói cách khác, Phật lấy hiện tại để chứng minh quá khứ của Ngài.

Vấn đề phương tiện đặt ra khiến chúng ta nghĩ đến thế đối lập của nó là cứu cánh. Duy Ma hay Tịnh Danh cư sĩ trụ ở thế giới của Phật Vô Động. Phật thì vô động và Bồ tát thì thanh tịnh. Hai hình ảnh này gợi cho hành giả hình dung một thế giới hoàn toàn an lành hay thế giới tu chứng của chư Phật và Bồ tát.

Từ thế giới hoàn toàn trong sạch ở phương Đông, Duy Ma rời bỏ thế giới đó để hiện thân trên cuộc đời làm cư sĩ, hay từ không sanh tử hiện làm người ở sanh tử. Như vậy cứu cánh của ngài là thế giới Diệu Hỷ thanh tịnh của Phật Vô Động và mang thân cư sĩ làm đủ việc ở thế gian được coi là phương tiện của Duy Ma.

Thế giới Diệu Hỷ của Phật Vô Động gợi cho chúng ta ít nhiều suy nghĩ. Hỷ là lòng vui mừng, lòng hành giả luôn hoan hỷ với mọi người, không buồn, không giận, không động.

Duy Ma ở với Phật Vô Động thường an trụ trong ba pháp căn bản là người khen chẳng mừng, chê chẳng giận, người thờ ơ cũng không quan tâm. Hành giả khởi tu ở Ta bà cần lưu ý điểm này. Khi nương với Phật Vô Động nghĩa là hành giả cần giữ cho tâm hồn yên tĩnh, đừng vui buồn động loạn theo tiếng khen chê của thế gian. Người xưa cũng dạy "Thị phi tiếng rụng theo hoa sớm”.

Tâm không động để làm chủ được bản thân. Hành giả biết rõ vui buồn thương ghét khởi lên đều kéo chúng ta rời bản vị giải thoát, rơi vào trần lao sanh tử. Ở trạng thái tâm vô động, hành giả mới hưởng được niềm vui không lệ thuộc cuộc đời, bước vào thế giới Diệu Hỷ. An trú trong thế giới này, hành giả sẽ phát hiện được Phật tri kiến, hay tạo được tự thọ dụng thân. Tự thọ dụng thân khác với tha thọ dụng thân.

Tha thọ dụng thân chỉ cho thân tứ đại ngũ uẩn của con người. Muốn giữ cho thân tứ đại sống, chúng ta phải cung cấp cho nó liên tục mỗi ngày một số đồ ăn thức uống. Và ngũ uẩn thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, chúng ta luôn tiếp xúc với cuộc đời, luôn suy nghĩ, nhận thức. Chỉ khi nào chúng ta chết, thì ngũ uẩn mới ngưng hoành hành.

Duy Ma hay Tịnh Danh sống với Phật Vô Động đã lìa ngũ uẩn, vấn đề tiếp tế cho ngũ uẩn thân không còn. Nghĩa là vui buồn vinh nhục của cuộc đời không còn làm hoen ố bản tâm ngài. Thiên nhiên, xã hội, hoàn cảnh…, nói chung, những gì bên ngoài không tác động Duy Ma và ngài cũng không cần nương tựa nó để sống. Như vậy đối với ngài, tha thọ dụng thân đã chấm dứt, Duy Ma chỉ sinh hoạt với tự thọ dụng thân là Phật tri kiến.

Ngược lại, phàm phu luôn sống với tha thọ dụng thân, hay mượn bên ngoài lam mình, rồi đem nó bao vây trói chặt tự thọ dụng thân, quên mất bản tâm. Thật vậy, chúng ta là chủ, nhưng lại lấy khách làm mình. Mỗi ngày ăn một số lượng thực phẩm vào cơ thể, nuôi lớn thân vật chất tứ đại và nhận lầm nó là con người thật của mình. Thức ăn vật chất đem vô sản sanh ra yếu tố tâm lý là nhận lãnh, hưởng thụ, suy nghĩ, hành động, hiểu biết, phân biệt… Tất cả những thứ này là hành trang càng ngày góp nhặt càng nhiều hơn theo bước chân tiếp xúc với cuộc đời của chúng ta. Nó ở trong chúng ta lâu ngày, xâm lấn toàn bộ thân tâm đến độ chúng ta lầm nó là Ta. Chẳng khác gì người ở trọ chiếm lần nhà, đến khi chủ nhà không còn một góc để dung thân. Đó là những tên giặc sắc, thọ, tưởng, hành, thức quấy nhiễu che lấp chân thân bên trong của chúng ta. Vì vậy, người nào còn vướng mắc, chấp vào tứ đại ngũ uẩn là Ta, họ sẽ lệ thuộc hoàn toàn bản thân, xã hội và thiên nhiên. Càng nô lệ nhiều chừng nào, chúng ta càng trở nên nhỏ bé; vì đối với vũ trụ bao la trong thời gian vô tan, không gian vô cùng, thì chúng ta có nghĩa lý gì.

Duy Ma nhắc nhở rằng mạng sống con người quá ngắn ngủi so với thời gian vô tận. Đem cái thân tứ đại ngũ uẩn mỏng manh này đi vào vũ trụ bao la không cùng mà chinh phục thiên nhiên, thì chúng ta chỉ là hạt cát trong sa mạc. Việc trước mắt cần nhổ ngay mũi tên độc sanh tử đang ghim vào người. Sự hiểu biết của ta về Pháp giới thật là ít ỏi, chẳng thấm vào đâu, mà mang tham vọng lớn chỉ phí công, nuốt hận chui xuống mồ.

Ngoài ý tưởng chinh phục thiên nhiên, chúng ta sử dụng tứ đại ngũ uẩn để chinh phục xã hội cũng không hợp lý. Vì không thể nào bắt người khác làm theo mình, khi sự hiểu biết và hoàn cảnh của mỗi người không giống nhau. Chúng ta tu hành chỉ có cách duy nhất phải chinh phục chính bản thân và tham vọng của mình, xóa sạch những gì đòi hỏi ràng buộc mình. Vì thế, Phật đặt vấn đề căn bản là thiểu dục tri túc. Càng hạn chế sự ham muốn, giảm bớt sự đòi hỏi thì càng được giải thoát. Chúng ta làm chủ được bản thân với điều kiện không nhờ vả nó. Yêu cầu của bản thân quá ít hay không có đòi hỏi gì, trong khi mức cung của chúng ta cho đời lại phát triển.

Yêu cầu và tham vọng được diệt sạch, tất nhiên sự xung đột với tham vọng, với cuộc đời, với thiên nhiên không xảy ra. Chẳng những không xung đột, chúng ta còn hài hòa với tất cả để chứng Pháp thân. Như vậy, dẹp bỏ tham vọng, tự trong sạch hóa chính mình, thì không cần đối phó chinh phục gì cả, mọi việc tự thành. Ngược lại, chỉ lo đấu tranh, chinh phục bên ngoài tạo thành thế xung đột; rồi lại tiếp tục đấu tranh nữa chăng. Trong khi chính bản thân mình không ra gì, đầy dẫy những thứ xấu xa tội lỗi mà muốn chinh phục đủ thứ; thật đáng thương hại.

Cổ nhân có nói "Các nhân tự tảo môn tiền tuyết. Bất quản tha nhân ốc thượng sương”, nghĩa là tuyết đầy ngập sân nhà mình mà không lo quét dọn, lại cứ lo chỉ trích nóc nhà thiên hạ phủ sương. Nói cách khác, chúng ta tu hành cần sửa mình, dọn tâm nhơ của chúng ta trước nhất. Khi bực bội, ham muốn khởi lên phải dập tắt ngay. Lo chạy ra ngoài xã hội, đánh mất bản tâm, là chính mình đã sai rồi. Lại lấy thêm tội lỗi của người khác tích lũy vào lòng mình, đến ngày nào đầy ắp thì nó tự bộc phát thành ngôn ngữ, cử chỉ và hành động tội lỗi của mình. Có thể nói đạo đức Phật giáo là trau giồi đạo đức của chính bản thân. Đừng để miệng nói đạo đức mà cuộc sống hoàn toàn trái ngược, thật đáng buồn.

Thoát ly được sự chi phối bên ngoài, mới sống được với tự thọ dụng thân, sống với nguồn vui không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. Hình ảnh tiêu biểu chính là cuộc sống của Phật luôn an lạc mỉm cười với chúng sanh, trong lúc cuộc đời thực sự chẳng có gì vui. Kinh gọi thế giới này là Diệu Hỷ, thế giới của những tâm hồn không bị gió trần lay động.

Từ thế giới Diệu Hỷ vô hình, Duy Ma là Bồ tát lớn thương nhân gian sanh lại cuộc đời. Tuy mang thân người, nhưng ngài không giống mọi người. Điều này phải chăng ngầm chỉ cho Phật Thích Ca có thân người nhưng khác người. Khác ở phần bên trong Ngài có đầy đủ đại từ, đại bi, Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng, phiền não không còn.

Thật vậy, trước khi hiện thân ở Ta bà, Ngài là Bồ tát Hộ Minh. Nghĩa là minh linh tánh, hay Phật tri kiến của Ngài được bao bọc bằng thân tứ đại ngũ uẩn Thích Ca mang tặng cho đời. Phật biết rõ tiền thân của Ngài như vậy và Ngài đến thế gian theo mục tiêu đã dự định và chủ động mọi việc trong cuộc sống.

Còn chúng ta lớn lên theo biết bao vui buồn vinh nhục của đời đổ trút cho ta. Xét cho cùng, thân này do cha mẹ tác thành, xã hội nhồi nhét cho chúng ta đủ thứ ý niệm phân biệt phải trái. Mang những thứ mà ta không đồng ý để nhồi nặn lại thành Ta. Còn Ta thật là cái gì, có ai biết được.

Sự khác biệt giữa thân tứ đại ngũ uẩn và chân thân gợi nhắc hành giả hiểu rõ hơn về phương tiện của Phật. Phật đã giải thoát hoàn toàn, nhưng thương nhân gian sanh lại cuộc đời; đó là phương tiện của Phật. Hoặc hiểu gần hơn, khi Phật thành đạo ở Bồ đề đạo tràng đạt đến trí tuệ tuyệt luân. Mọi loài không thể nào hiểu được, tiếp thu được thế giới tâm chứng này. Phật muốn truyền trao sở đắc cũng phải rời Bồ đề đạo tràng xuống Lộc Uyển, tiếp cận chúng sanh.

Cũng vậy, Duy Ma ở thế giới Diệu Hỷ tịch tĩnh. Chúng sanh làm thế nào biết được ngài và ngài làm thế nào giáo hóa chúng sanh, nếu cứ an trụ trong Niết bàn tịch tĩnh. Thế giới thanh tịnh và thế giới sanh diệt cách ly nhau. Muốn giáo hóa chúng sanh Ta bà, Duy Ma phải khai phương tiện, hiện thân lại ở thế giới Ta ba.

Cư tài chi sĩ

Cư gia chi sĩ

Tại gia chí Phật đạo giả.

Đó là hình ảnh cư sĩ Duy Ma với tấm lòng chí đạo không hề thua sút giới xuất gia, hay đúng hơn không kém Phật. Ngài đã đạt bản tâm thanh tịnh, nhưng hiện thân lại cuộc đời, có đủ tài sản để cúng dường chư Phật.

Ngày nay, cả hai chúng tại gia và xuất gia đồng tu phải tương ưng. Nếu chúng tại gia quá yếu, không có người hằng tâm hằng sản, có thế lực bên ngoài để hộ đạo, chúng ta không phát triển Phật đạo được. Hiện thân cư sĩ làm việc cúng dường là bước theo lộ trình thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh, nhằm duy trì Tam bảo tồn tại trên thế gian.

Dù Duy Ma sống với thật tướng các pháp ở bản thể, nhưng ngài tùy người, tùy chỗ, thị hiện trong đủ các ngành nghề của xã hội, để từng bước dìu dắt mọi ngươi tiến gần đến Vô thượng Chánh đẳng giác.

Trong mười hai năm đầu, Duy Ma xuất hiện ở thành Tỳ Da Ly, chưa ai nghĩ đến Phật và đạo Phật. Chính Duy Ma cũng không xác định ngài là đệ tử Phật. Sự lặng thinh của Duy Ma về tư cách Phật tử của mình cũng là phương tiện của ngài. Điều này cũng gợi cho ta cân nhắc mỗi khi muốn nhân danh đệ tử Phật để làm gì.

Duy Ma dấu bặt tông tích của ngài. Mọi người trong thành Tỳ Da Ly vẫn thấy ngài như một người bạn thân của mình. Ý này ngầm chỉ các Bồ tát xuất hiện trên cuộc đời không bao giờ vỗ ngực xưng tên. Các ngài âm thầm giúp đỡ người thăng hoa và lặng lẽ ra đi, để lại dấu ấn sâu sắc, khiến người liên tưởng đến Phật, Bồ tat. Đây cũng là cách sống của Phat Thích Ca trong bốn mươi chín năm thuyết pháp giáo hóa ở cõi đời. Ngài sống bình dị, không phô trương biểu diễn như hàng ngoại đạo. Nhưng Ngài Niết bàn, để lại cho nhân loại một kho tàng vô giá, mở ra cho loài người con đường sống bất tử.

Duy Ma nhận chân được rằng ngài mang hình thức cư sĩ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc phát triển những nét sáng đẹp tràn đầy ý nghĩa của Phật đạo. Điều đó tốt hơn là tự khoác lên mình chiếc áo xuất gia, chỉ làm vướng bận và hạn chế những bước tiến sinh động trên lộ trình vô ngã vị tha.

Với khối óc và đôi tay, Duy Ma đóng góp nhiều lợi lạc cho đời, thắp sáng ngọn đèn chánh pháp trong tâm tưởng mọi người. Đó là cái thấy như thật của Bồ tát, thấy việc gì thành tựu lợi ích cho chúng sanh thì sẵn sàng xả thân thực hiện. Còn phương tiện hay hình thức thì đa dạng, tùy theo nhu cầu mà thay đổi.

Đối với Bồ tát, hình thức cư sĩ, xuất gia, Thanh văn hay Bồ tát, bất cứ vai trò nào chẳng qua chỉ là lớp áo đổi thay thay đổi không dừng trên sân khấu cuộc đời. Trong tâm niệm của các ngài luôn mong mỏi đem lại an lạc giải thoát cho người. Ý này được một danh Tăng diễn tả bằng câu "Phương tiện môn trung bất xả nhứt pháp”. Nói đến phương tiện thì thật vô cùng. Tuy nhiều vô số, nhưng phương tiện nào cũng đúng, vì nó đáp ứng được cho từng căn cơ, trình độ, hoàn cảnh khác nhau.

Duy Ma xuất hiện với tư cách cư sĩ nổi bật hơn xuất gia, để giới thiệu phương tiện của ngài là trí tuệ và đạo đức. Ở trên cuộc đời, lời nói của người đạo đức mới có giá trị và người trí thức mới đủ khả năng để nói điều đúng, hay chân lý. Duy Ma trọn vẹn hai tư cách trí thức và đạo đức, đươc mọi người kính trọng và ngài vận dụng được mọi phương tiện hoàn hảo.

Trái lại, nếu hành giả thiếu trí tuệ và đạo đức, thì phương tiện sử dụng sẽ trở thành nguy hiểm. Duy Ma vào đời truyền bá Phật pháp, cảm hóa người một cách nhẹ nhàng bằng bản tâm thanh tịnh giải thoát và sáng suốt của ngài. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cư sĩ muốn thành tựu công đức như Duy Ma phải ở trình độ nào. Ở đây cư sĩ Duy Ma thành Phật rồi, vì thương nhân gian mà sanh lại, thì thân cư sĩ là phương tiện của Duy Ma để trợ hóa Phật. Hay chúng ta có thể hiểu thêm nghĩa khác nữa, Duy Ma chính là hiện thân của Phật Thích Ca. Thật vậy, hòa mình trong ba giới thượng lưu trí thức nòng cốt của xã hội và được kính nể như hàng lãnh đạo tài đức, Duy Ma đã thể hiện trọn vẹn tư chất trọng yếu của Phật là trí tuệ. Dấn thân vào sống với dân nghèo làm người cha che chở, dạy dỗ nuôi nấng, cứu giúp họ, Duy Ma đóng trọn vẹn vai của Phật hiện hữu trên thế gian nhằm ban vui cứu khổ cho chúng sanh.

Nói chung, mọi tầng lớp xã hội trong thành Tỳ Da Ly đều xem Duy Ma là Thầy. Ngài vận dụng tất cả phương tiện trên cuộc đời để xây đắp cho xã hội phát triển an lạc. Tuy hiện hữu như một người bình thường, nhưng thâm tâm Duy Ma tôn thờ các Đưc Phật làm Thầy và ngài đã từng gần gũi cúng dường vô lượng Phật.

Trong mười hai năm, ngài hoàn thành xong hình ảnh của người con Phật với trí tuệ tuyệt vời và tình thương bao la. Từ giai cấp Bà la môn, vua chúa, trưởng giả, cho đến người cùng đinh đều ghi đậm nét cảm tình và lòng khâm phục đối với ngài. Lúc ấy, Phật và các đệ tử mới đến thành phố này. Phải chăng Duy Ma đã đóng vai trò chuẩn bị, sắp xếp bối cảnh thuận tiện cho Đức Phật xuất hiện. Nói cách khác, Duy Ma không phải người nào xa lạ, ngài chính là hiện thân của Thích Ca Như Lai.

Ở dạng thể tánh, Duy Ma và Thích Ca tuy hai mà một. Trên mặt sanh diệt của cuộc đời, có Duy Ma; nhưng trên bản thể giải thoát trở thành Thích Ca. Mối liên hệ vô hình giữa Phật và Duy Ma mới là việc quan trọng.

Duy Ma làm tất cả việc nhân gian nhờ lực của Thích Ca Như Lai truyền đến. Lực Như Lai, hay cứu cánh của Phật Thích Ca thể hiện thành những phương tiện của Ngài với vô số cư sĩ gánh vác mọi việc.

Ở thành Tỳ Da Ly, mọi người kính trọng Phật qua hình ảnh cư sĩ Duy Ma có trí tuệ siêu việt và đạo đức thánh thiện. Bước chân vào đời, Duy Ma thực hiện được lợi lạc nào cho chúng sanh đều hồi hướng Phật đạo. Ngài vận dụng khéo léo tất cả pháp Phật dạy như sáu pháp Ba la mật, bốn pháp nhiếp, bốn tâm vô lượng, ba mươi bảy Trợ đạo phẩm trong việc hành đạo ở thế gian.

Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm cũng không ngoài những pháp này, một kho tàng Phật pháp vô tận mà Duy Ma ứng dụng một cách linh động và hữu hiệu vào cuộc sống thực tế. Ngài trở thành nhân vật trí thức gần gũi quần chúng, giải tỏa những khó khăn vật chất, tâm linh và thăng hoa cuộc sống cho họ.

Đóng vai trò trí thức luận đạo với Bà la môn, Duy Ma không thể mang hình tướng một Sa môn Phật giáo, vì Sa môn và Bà la môn là hai thái cực đối lập. Một bên tích lũy tài sản, một bên chủ trương vô sản. Hai lập trường này hoàn toàn khác biệt, khó cảm thông đàm đạo với nhau.

Đối với hàng vua chúa, võ sĩ, Duy Ma luận bàn chính trị rất chính xác, với tầm nhìn bao quát phổ cập sinh hoạt xã hội, kinh tế, văn hóa... Họ kính trọng Duy Ma như một trưởng lão có tầm tri thức rộng lớn, nghĩa là một dạng khác của Phật, đầy đủ tài đức cố vấn cho họ trong việc trị nước an dân. Nếu đến với tư cách Sa môn, Duy Ma sẽ không tránh khỏi sự khinh bỉ của hạng người nhiều quyền thế ngã mạn này.

Ngoài hai giai cấp Bà la môn và Sát đế lợi nói trên, Duy Ma còn chỉ đạo cho giơi kinh doanh, trong đó có năm trăm thương gia từ Hy Lạp đến thành Tỳ Da Ly buôn bán phát đạt. Nếu khoác áo Sa môn, Duy Ma khó hành đạo trong môi trường nhiều toan tính của giới thương gia.

Không những lãnh đạo hàng vua chúa, ngoại đạo, thương gia, ngay cả đối với các Tỳ kheo, Duy Ma cũng thừa lệnh Phật chỉnh lý các Tỳ kheo lạc đường. Các Tỳ kheo quen sống theo lối mòn cũ được sự cung kính ở thành Xá Vệ, bước chân đến thành phố Tỳ Da Ly phát đạt. Nơi đó, dân chúng có trình độ hiểu biết rộng lớn, không dễ dãi sùng kính Sa môn như ở thành Xá Vệ. Họ liền chạm trán ngay với cư sĩ Duy Ma.

Duy Ma cho những nhát búa sấm sét làm các Tỳ kheo phải khiếp sợ cư sĩ. Đó cũng là phương tiện của Phật nhằm gián tiếp dạy dỗ Tỳ kheo sơ phát tâm nhiều tự mãn. Tâm lý của người được sống đầy đủ dễ dàng thường hay ỷ lại, bướng bỉnh khó giáo hóa. Phật mới dẫn các Tỳ kheo đến thành Tỳ Da Ly cho họ chạm trán với thực tế cuộc đời qua sự chất vấn của cư sĩ cự phách Duy Ma.

Các Tỳ kheo chợt bừng tỉnh, nhận ra yếu điểm và mang tâm hồn thua cuộc đau khổ về trình với Phật. Không có Duy Ma cho những bài học kinh nghiệm đích đáng ở đời, các Tỳ kheo vẫn tiếp tục nếp sống đóng khuôn, không chịu tiến thân.

Gánh vác việc làm mang sắc thái khác, Văn Thù Sư Lợi là mẫu người xuất gia có trí tuệ cao tột không thể xuất hiện trong khung cảnh Tỳ Da Ly. Chỉ có lớp áo cư sĩ Duy Ma thích ứng tốt đẹp cho bối cảnh như vậy.

Duy Ma giao thiệp rộng với đủ thành phần xã hội gợi cho chúng ta ý niệm về sự giao thiệp rộng của ngài để làm gì. Riêng chúng ta, tiếp xúc nhiều với người nhằm mục đích gì.

Suốt quá trình hiện hữu ở cuộc đời, Duy Ma luôn mang lợi lạc cho người. Sức sống mà Duy Ma vận dụng được ở đây là sức sống của chúng sanh. Nghĩa là con người còn tồn tại thì Phật và chư Bồ tát còn hiện hữu bên cạnh họ, một biểu tượng thế gian tướng thường trụ trong Duy Ma.

Khi Duy Ma thành tựu mọi việc tốt đẹp, sử dụng phương tiện một cách khéo léo xong, ngài mới xóa các phương tiện này để giới thiệu một cái gì xa hơn mà mọi người chưa biết đến. Đó là chân thân khác với giả thân.

Một lần nữa, Duy Ma lại sử dụng thêm phương tiện khác với những phương tiện trước. Ngài tuyên bố có bệnh. Bệnh là phương tiện của Bồ tát. Bồ tát sử dụng phương tiện thân bệnh, hay phương tiện chết để giáo hóa chúng sanh. Cũng vậy, Phật hiện thân trên cuộc đời, hay từ giã cuộc đời cũng đều là phương tiện. Vì cứu cánh của Ngài mang bản chất thường, lạc, ngã, tịnh, không có sanh tử, nhưng phương tiện hiện sanh tử. Phật nói: "Những người đáng độ đã độ xong, những việc đáng làm đã làm xong”.

Duy Ma cũng không đi ngoài lộ trình này. Những gì cần làm để hồi hướng Phật đạo, ngài đã hoàn thành. Ngài là người đi trước đến thành Tỳ Da Ly để sắp xếp cho Phật Thích Ca xuất hiện. Và Phật Thích Ca là người đi trước ở Ta bà để sắp xếp cho bổn Phật, hay Pháp thân Phật thuyết pháp.

Nếu Phật Thích Ca thuyết pháp mãi ở Ta bà, chúng ta sẽ nhàm chán, nghe nhiều mà ít quan tâm vận dụng. Ngài vào Niết bàn để chúng ta lóng tai nghe bổn Phật thuyết pháp. Nói cách khác, Phật Niết bàn, chúng Tăng chới với, bắt buộc phải đối phó với mọi nghịch cảnh bằng cách tự nỗ lực phát huy trí tuệ. Tự giải quyết thì trí thân mới sáng thêm. Nhờ vậy, từ Phật Niết bàn đến nay, các vị danh Tăng hiện hữu khắp mọi nơi tu hành đắc đạo, tỏa hương cho đời. Các ngài kiến giải kinh Đại thừa dưới mọi dạng thức, hợp thành tam tạng giáo điển thật bao la và thật sâu sắc. Vì vậy, Niết bàn của Phật vẫn là phương tiện.

Ý này cũng được diễn tả trong kinh Pháp Hoa qua thí dụ lương y và cuồng tử. Những đứa con uống lầm thuốc độc nghe tin cha chết, cảm thấy côi cút, không còn chỗ nương tựa. Họ phải cố gắng khắc phục mọi khó khăn, tự vươn lên. Nếu người cha không chết, họ suốt đời ỷ lại sống dưới sự bao che, trở thành ngờ nghệch, dại khờ.

Duy Ma nói vì chúng sanh bệnh, ngài có bệnh; chúng sanh khỏe, ngài hết bệnh. Rõ ràng bệnh của ngài phát xuất từ tâm đại bi. Vì thực sự Ngài ở Niết bàn, nhưng thương chúng sanh bệnh ở nhân gian, mà hiện lên cuộc đời. Có thân thì phải có bệnh.

Bệnh hạnh là một trong năm hạnh của Bồ tát. Bồ tát có năm hạnh là thánh hạnh, thiên hạnh, phạm hạnh, anh nhi hạnh và bệnh hạnh. Bồ tát sống ở nhân gian vượt ra ngoài năm hạnh này, sẽ mất tư cách Bồ tát.

Bồ tát ở trên cuộc đời, không bị hạn cuộc trong việc làm cố định. Làm bất cứ việc gì cũng được, nhưng phải gợi cho người nhìn về Bồ tát, nghĩ đến Bồ tát, đều thấy thuần thiện. Đó là thánh hạnh. Hạnh cao quý này phát xuất từ bản tâm thanh tịnh, nên gọi là thiên hạnh.

Ngoài ra, Bồ tát còn có những việc làm, những hành động mô phạm cho mọi người là phạm hạnh. Tuy đầy đủ ba hạnh cao quý trên thế gian, nhưng Bồ tát phải kèm theo hanh thứ tư là anh nhi hạnh; nghĩa là không bao giờ thấy mình lớn hay hơn người. Dù Bồ tát làm được mọi việc, nhưng luôn luôn biết kính trên nhường dưới. Bồ tát càng giỏi càng khiêm tốn, vì cảm nhận sâu sắc rằng sự thành tựu công đức là nhờ Như Lai lực truyền đến. Vì vậy, Bồ tát trong kinh Đại thừa muốn hỏi Phật điều gì, đều xác định nhờ nương theo thần lực, không phải tự mình.

Tròn đầy bốn hạnh, được mọi người thương yêu kính trọng, Bồ tát không hiện hữu ở đây chi nữa. Với tinh thần vô ngã vị tha, Bồ tát góp mặt lúc khó khăn, nhưng xong việc để phước lạc cho nhân gian hưởng. Bệnh hạnh là hạnh cuối cùng kết thúc bước chân hành đạo của Bồ tát. Phật dạy Bồ tát thành tựu mục tiêu, nên nhẹ nhàng ra đi. Chẳng có việc gì lưu giữ được Bồ tát trên thế gian này. Đối với Bồ tát, sự hiện hữu hay vắng bóng chỉ nhằm làm sáng đẹp cho đời.

Duy Ma xuất hiện ở thành Tỳ Da Ly cũng không ngoài mục tiêu này. Sau khi nâng cao đời sống cho dân trong thành, ông mới thị hiện có bệnh. Duy Ma vận dụng phương tiện có benh để mọi người đến thăm ngài, thăm một người giàu có, sang trọng, nhiều uy tín đang bệnh, đối diện với cái chết. Bao nhiêu của cải, danh vọng, quyền lực của ngài đều sắp rũ sạch gợi lên cho mọi người ý tưởng kính trọng, thương mến, ham muốn. Lúc ấy, thời cơ mới đến để Duy Ma khai pháp. Nhất là lời nhắc nhở sau cùng của một người sắp chết thường lưu lại sâu đậm trong tâm hồn người nghe.

Duy Ma sử dụng phương tiện của ngài là bệnh, nên pháp mà ngài thuyết phải là pháp vô thường. Sắp chết nói vô thường, mọi người sẽ hiểu vô thường một cách sâu sắc hơn. Đó là bài pháp sống mà ngài thể nghiệm và phơi bày trước mắt mọi người, truyền thẳng đến con tim từng người đến thăm bệnh, tác động cho họ ý thức được cái gì thường hằng vĩnh cửu và cái gì luôn thay đổi không thể tồn tại.

Vì bệnh nên Duy Ma nhắm vô thân bệnh, hay thân con người mà thuyết pháp. Trước hết, Duy Ma quan sát thấy con người từ lúc sanh đến khi từ giã cuộc đời, giống như cây chuối không bền chắc. Con người khởi điểm từ sự chuyển hóa của tinh cha huyết mẹ, phát triển thành bào thai, cho đến khi mở mắt chào đời và mỗi ngày lớn lên. Nghĩa là từ vật nhỏ xíu biến chất, thay đổi, lột bỏ lần để có hình hài, rồi từ bên trong này bung ra để phát triển. Những gì trong cơ thể c