cool hit counter

I. LƯỢC VĂN KINH

Phật bảo Bồ tát Di Lặc đến thăm bệnh Duy Ma Cật. Di Lặc bạch Phật rằng ngài không kham lãnh đến thăm bệnh Duy Ma; vì lúc trước ngài nói hạnh bất thối chuyển cho Thiên vương và chư Thiên ở cõi Trời Đâu Suất. Duy Ma Cật đến nói: "Ngài Di Lặc, Thế Tôn thọ ký cho ngài một đời sẽ được quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Đó là đời nào mà ngài được thọ ký, đời quá khứ, đời hiện tại hay đời vị lai.

"Nếu dùng Vô sanh mà được thọ ký thì Vô sanh tức là chánh vị. Đối với chánh vị, không có việc thọ ký, cũng không co việc được quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Làm sao Di Lặc được thọ ký một đời sanh.

"Theo Như sanh mà được thọ ký hay theo Như diệt mà được. Tất cả chúng sanh, pháp, Hiền Thánh cho đến Di Lặc đều là Như. Nếu Di Lặc được thọ ký, đáng lẽ tất cả chúng sanh cũng phải được thọ ký. Vì hễ là Như, thì chẳng có hai, chẳng có khác. Nếu Di Lặc được quả Vô thượng Đẳng giác, thì tất cả chúng sanh cũng đều được, vì tất cả chúng sanh là tướng Bồ đề. Nếu Di Lặc được diệt độ, tất cả chúng sanh cũng phải được diệt độ. Vì thế, Di Lặc đừng dùng pháp đó dạy các Thiên tử.

"Di Lặc phải làm cho các Thiên tử bỏ chỗ kiến chấp phân biệt Bồ đề. Vì Bồ đề không thể dùng thân hay tâm mà đắc. Tịch diệt là Bồ đề, chẳng hành động là Bồ đề, bình đẳng là Bồ đề, v.v…”

Khi Duy Ma Cật thuyết pháp xong, hai trăm Thiên tử chứng Vô sanh pháp nhẫn.

Phật dạy Đồng tử Quang Nghiêm đi thăm bệnh Duy Ma. Ngài bạch Phật rằng không đủ sức đảm nhiệm việc đến thăm bệnh Duy Ma; vì nhớ lại ngày trước ngài ở thành Tỳ Da Ly vừa ra, gặp Duy Ma đi vào thành.

Quang Nghiêm hỏi Duy Ma: "Ngài từ đâu đến”. Duy Ma trả lời từ đạo tràng tới. Quang Nghiêm hỏi Duy Ma đạo tràng là gì. Ngài đáp: "Trực tâm, Thâm tâm, Bồ đề tâm là đạo tràng. Sáu pháp Ba la mật là đạo tràng, từ bi hỷ xả, bốn pháp nhiếp, ba mươi bảy Phẩm trợ đạo là đạo tràng, v.v… Nếu Bồ tát đúng pháp Ba la mật giáo hóa chúng sanh, thì bao nhiêu việc làm, hay nhất cử nhất động đều từ đạo tràng mà ra”.

Khi Duy Ma Cật nói pháp ấy, năm trăm vị Trời và ngươi đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

Kế đến Phật bảo Trì Thế Bồ tát đến thăm bệnh Duy Ma. Trì Thế bạch Phật không kham lãnh đến thăm bệnh; vì nhớ lại lúc ngài ở tịnh thất, ma Ba Tuần đem mười hai ngàn Thiên nữ giống như Trời Đế Thích trỗi nhạc đàn ca, đến chỗ Trì Thế cúi đầu đảnh lễ. Trì Thế tưởng là Đế Thích thật, nên dạy chúng chớ nên buông lung, phải quán ngũ dục là vô thường để trồng cội lành, ở nơi thân mạng, tài sản mà tu pháp bền chắc. Ma vương bảo Trì Thế nhận mười hai ngàn Thiên nữ để dùng hầu hạ. Trì Thế không nhận.

Nói chưa dứt lời, thì Duy Ma đến bảo Trì Thế rằng đây không phải là Đế Thích. Họ là ma đến khuấy phá. Duy Ma lại bảo ma đem Thiên nữ cho ngài. Ma sợ hãi muốn biến nhưng không đi được, liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng hãy đem Thiên nữ cho Duy Ma, mới đi được. Ma đành miễn cưỡng cho.

Lúc ấy, Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ nên phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác, rồi ngài dạy họ các pháp vui để tự vui. Không nên vui theo ngũ dục. Vui thường tin Phật, vui nghe pháp, vui cúng dường Tăng, vui lợi ích chúng sanh, vui mở rộng tâm Bồ đề, vui với chánh pháp, vui tu vô lượng đạo phẩm, v.v…

Lúc ấy, ma Ba Tuần bảo các Thiên nữ trở về Thiên cung, nhưng họ không chịu theo về. Ma liền thưa với Duy Ma nên thả các Thiên nữ và Duy Ma bằng lòng. Các Thiên nữ hỏi Duy Ma họ phải làm gì ở cung ma. Duy Ma dạy họ pháp môn Vô tận đăng. Sau đó, Thiên nữ theo ma Ba Tuần về Thiên cung.

Kế đến, Phật dạy trưởng giả Thiện Đức hay Cấp Cô Độc đi thăm bệnh Duy Ma. Thiện Đức cũng không nhận đến thăm Duy Ma. Vì nhớ lại thuở trước, ông có lập hội đại thí trong bảy ngày để cúng dường cho tất cả Sa môn, Bà la môn, ngoại đạo, kẻ nghèo khó, cô độc và ăn xin.

Lúc ấy, Duy Ma đến nói với Thiện Đức rằng hội của ông không phải là đại thí hội. Phải lập hội pháp thí, lập hội tài thí làm gì. Và Duy Ma dạy Bồ tát Thiện Đức thế nào là hội pháp thí.

Hội pháp thí là cúng dường tất cả chúng sanh, không trước không sau, nghĩa là nhiếp tâm tham khởi bố thí Ba la mật. Vì độ kẻ phạm giới, khởi trì giới Ba la mật. Vì không ngã pháp, khởi nhẫn nhục Ba la mật. Vì rời tướng thân tâm, khởi tinh tấn Ba la mật. Vì tướng Bồ đề khởi Thiền định Ba la mật. Vì Nhứt thiết trí, khởi trí tuệ Ba la mật. Vì giáo hóa chúng sanh mà khởi ra Không. Vì độ chúng sanh, khởi pháp Tứ Nhiếp. Vì đoạn tất cả phiền não, tất cả chướng ngại, tất cả pháp bất thiện, khởi làm tất cả pháp trợ Phật đạo, v.v… Nếu Bồ tát trụ ở hội pháp thí là vị đại thí chủ, cũng là phước điền cho thế gian.

Khi Duy Ma Cật nói pháp ấy, hai trăm Bà la môn phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

Lúc đó, tâm của Thiện Đức thanh tịnh và ông đảnh lễ Duy Ma Cật. Ông mở chuỗi anh lạc dâng lên Duy Ma. Duy Ma lấy chuỗi anh lạc chia làm hai phần. Một phần cho người ăn xin hèn hạ nhất trong hội, một phần đem dâng cho Đức Nan Thắng Như Lai. Tất cả chúng hội đều thấy nước Quang Minh và Đức Nan Thắng Như Lai, lại thấy chuỗi anh lạc ở trên Đức Phật ấy biến thành đài báu.

Duy Ma Cật hiện thần biến xong nói rằng nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng bố thí cho một người ăn xin rất hèn hạ, xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt. Lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả bao. Đó là đầy đủ pháp thí.

Trong thành, những người ăn xin thấy thần lực và nghe lời nói ấy đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

II. GIẢI THÍCH

Phật nói pháp Thanh văn, nhưng mục tiêu chánh của Ngài nhằm hướng tâm họ qua lộ trình Bồ tát. Ngài đưa ra dụ ma ni để chúng Tăng thấy sự khác biệt giữa quả vị La hán của Thanh văn và La hán của Phật. Bên ngoài hai quả vị này giống nhau, nhưng bên trong hoàn toàn khác.

Tư cách La hán của Phật tác động cho người thanh tịnh, phát tâm Bồ đề, ví như ma ni để vô nước làm cho nước sạch. Trong khi La hán khác không tác động được như Phật, ví như thủy tinh bên ngoài trông giống ma ni, nhưng không thể làm nước trong.

Từ sự khác biệt đó, kinh Duy Ma muốn hướng dẫn chúng ta thay đổi tính chất bên trong, tức hướng chúng ta đến Bồ tát đạo. Tu theo Thanh văn chỉ là thay đổi hình bên ngoài rất dễ, nhưng không có tác dụng. Nói cách khác, hành giả phải đổi bản chất người thường thành bản chất người tu. Điều này đòi hỏi phải có quá trình dài, mà kinh thường xác định phải trải vô số kiếp tu đạo Bồ tát. Mỗi kiếp đổi tánh bên trong một ít.

Bồ tát đạo không nhứt thiết cần mang hình thức xuất gia. Làm vua thì phải thực hiện pháp Phật thế nào, làm dân phải tu ra sao. Trải qua đủ các ngành nghề trong những loại hình đều sống theo lời Phật dạy, cho đến khi thành Thầy tu, hành giả có đủ kinh nghiệm sống. Vì thế, de dàng điều động người, mà không bị họ tác động.

Nhân địa tu hành của Phật là Bồ tát hiệp trần. Nhân địa tu hành của Thanh văn là ly trần. Hai pháp này hoàn toàn khác nhau. Thanh văn tu tâm niệm thoát ly, trụ định, không biết rõ đối tượng thì làm sao giáo hóa độ người, nên không thể tác dụng vào cuộc sống con người. Trái lại, Phật nhập thế, qua lại trong sáu đường sanh tử, làm cha lành muôn loài. Vì vậy, đối với các loài, Phật biết rõ và đứng ở lập trường của họ mà hướng dẫn làm cho lợi lạc.

Đề cập đến Bồ tát, kinh Pháp Hoa nêu ra những hành động đơn giản như cúng dường một bông hoa nhỏ, hay cúi đầu trước Phật cũng là hạnh Bồ tát Hoặc nghịch hạnh như Đề Bà Đạt Đa, về sau cũng thành Phật.

Hạnh Bồ tát từ thấp đến cao có thể tánh tràn đầy. Đó là vấn đề quan trọng, hiểu đã khó và đem diễn tả cho người hiểu càng khó hơn. Ví như có người thấy tôi giảng kinh hay và nhờ tôi dạy cách giảng. Tôi dạy được, nhưng làm cho vị đó bằng như tôi, không được. Pháp này không thể diễn tả là như vậy. Dù giải thích nhiều đến đâu, cũng khó nói cho trọn vẹn việc làm của Bồ tát dẫn đến Phật quả. Phật dạy đại chúng pháp giống nhau, nhưng mỗi người tiếp thu, chứng quả khác nhau. Vì vậy, pháp chân thật không thể dùng lời lẽ chỉ được, nói ra là trở thành phương tiện. Mọi người nương pháp phương tiện tự hiểu, mà đã tự hiểu là hiểu theo ý riêng của chính mình, không thể giống người giảng.

Từ đó, hành giả phải biết học là phương tiện và pháp chân thật thì phải tự tu tự chứng. Kinh Duy Ma đã giới hạn những hạnh căn bản, hành giả nương theo đó tóm lược, giữ phần chánh yếu làm hành trang để điều chỉnh thân tâm. Và sau đó, từng bước va chạm với thực tế cuộc đời, trí giác phát sanh, mới hiểu thế nào là sự khó khăn của Bồ tát hành đạo.

Đệ tử Phật có ba hạng là Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Trong quá trình tu giới định huệ, huệ của Thanh văn là văn huệ, tức huệ thấp nhất. Do nghe, học mà phát huệ biết được. Tiến đến hàng Duyên giác đạt được sự hiểu biết do suy nghĩ, gọi là tư huệ. Và Bồ tát là người biết ứng dụng lời Phật dạy để giáo hóa chúng sanh có kết quả.

Tuy có ba hạng đệ tử, nhưng kinh Duy Ma xếp hàng Duyên giác chung với Thanh văn, nên ở đây chỉ đề cập đến Thanh văn và Bồ tát. Trong lúc tu hạnh Thanh văn, hành giả phải gạn lọc thân tâm trong sạch, loại bỏ thói hư tật xấu, trở thành người phạm hạnh, không tác hại người khác. Tu hạnh Thanh văn, hành giả chưa dám nghĩ đến giáo hóa người, mà chỉ lo tu dưỡng, phát triển khả năng, đạo đức thuần thiện của một Thanh văn La hán và từ đó bước qua Bồ tát đạo. Nếu không trải qua giai đoạn Thanh văn, mà thực hiện Bồ tát hạnh chỉ là Bồ tát giả danh.

Như vậy, với quá trình theo Phật nghe pháp, suy nghĩ và ứng dụng có kết quả, tạo thành chúng Bồ tát. Bồ tát này gọi là Bồ tát Tam thừa hay Bồ tát từ nhân hướng quả. Vì tu theo thứ tự từ Thanh văn tiến lên Duyên giác, Bồ tát và hướng về quả vị Phật, khác với Bồ tát Nhất thừa được nói đến trong phẩm thứ 5 chỉ cho Bồ tát từ quả đi ngược về nhân. Bồ tát Nhất thừa đã thành Vô thượng Đẳng giác vì thương nhân gian mà sanh lại, như Bồ tát Duy Ma từ thế giới Diệu Hỷ của Phật Vô Động hiện thân lại Ta bà.

Phẩm 4 chuyển mạch từ Thanh văn sang Bồ tát, đơn cử bốn vị gồm ba Bồ tát xuất gia và một Bồ tát tại gia. Tuy chia ra hai loại Bồ tát, nhưng kỳ thực chỉ là một. Đã là Bồ tát thì không thể đặt vấn đề xuất gia hay tại gia. Vì trên chân lý, bản thể đồng nhất, nhưng xuất hiện ở cuộc đời phải tùy hoàn cảnh, tùy thời gian làm những việc thích hợp. Chính vì lý do đó mà Bồ tát Quan Âm có ba mươi hai hiện thân. Tùy theo yêu cầu và hoàn cảnh, mà ngài hiện thân khác nhau, nhưng chung quy chỉ nhằm dẫn đến Nhứt thiết chủng trí.

Từ trước chúng ta quen thờ Tam bảo cực đoan, nên Tăng bảo chỉ có thể là hình tướng xuất gia giải thoát ly dục. Vì vậy từ Thanh văn chuyển sang tu Bồ tát cũng phải chuyển từ các vị Tăng tu hạnh Bồ tát. Nếu đưa ra mẫu cư sĩ tu Bồ tát sẽ bị chướng ngại, nên ba vị Bồ tát được đề cập trước tiên là Bồ Tát Thanh văn hay Bồ tát xuất gia. Sau mới đến mẫu Bồ tát tại gia là Thiện Đức Bồ tát hay Cấp Cô Độc.

Kinh Duy Ma đưa ra bốn vị Bồ tát tiêu biểu phạm phải những hành động sai lầm khi bước vào lộ trình Bồ tát và bị Duy Ma chỉnh lý. Ý này khiến chúng ta liên tưởng trên bước đường tu hành, mỗi khi tiến thêm một nấc, ta lại gặp khó khăn mới lớn hơn trước. Có sự chuẩn bị đạo phong và tư cách sẵn sàng đối phó với ma chướng như vậy, ta mới vượt được vô số chông gai nguy hiểm giăng đầy khắp nơi. Cho đến ngày chúng ta thành Phật, cũng chưa chấm dứt khó khăn.

Phật dạy đừng xây lâu đài trên cát. Nền tảng vững chắc của chúng ta là giới luật. Lúc sơ tâm, không nên để phạm lỗi lầm. Càng ít lỗi, ta càng dễ đi lên. Công lao tu hành tích lũy được, chỉ lỡ một bước thành tiêu tan. Người xưa ví như ruộng muối lâu ngày sắp dùng được, gặp một trận mưa trở thành bỏ đi. Tuy nhiên, ý thức được ma chướng không phải chỉ có trong hiện đời. Đời này chúng ta tu, nhưng túc nghiệp đời trước hiện lên khuấy phá, não loạn ta không ít. Ví như người trốn nợ bỏ quê đi xa, làm ăn vừa khá giả thì gặp lại chủ nợ cũ. Đối trước những ác duyên, Phật dạy Bồ tát không sợ qua, chỉ sợ nhân ác. Trong khi chúng sanh sợ quả báo xấu, nhưng thích làm việc ác. Quả báo đến, ta xem như thử thách để tiến tu đạo nghiệp.

Bốn vị Bồ tát bị chỉnh, được nêu đích danh là Di Lặc, Quang Nghiêm, Trì Thế và Thiện Đức. Bốn Bồ tát này làm thượng thủ của sáu mươi ngànBồ tát tham dự. Các ngài còn vấp phải sai lầm, huống chi chúng ta thuộc hàng sơ phát tâm.

Bốn vị Bồ tát lãnh đạo tiêu biểu cho tất cả hạnh Bồ tát từ khởi đầu đến kết thúc, không phải chỉ bốn người riêng biệt. Trong quá trình hành Bồ tát đạo, chúng ta sẽ tuần tự gặp bốn vị này. Hay nói cách khác, là bốn giai đoạn chúng ta tu đạo Bồ tát, bốn cấp bậc chuyển biến trong một con người.

Khi hàng đệ tử Thanh văn không kham nhận thăm bệnh, Phật dạy Di Lặc Bồ tát đến thăm bệnh Duy Ma. Ngài liền từ chối, vì đã từng chạm trán với Duy Ma. Di Lặc chịu thua Duy Ma, nghĩa là thua cuộc đời, hay đó chính là hình ảnh thua cuộc của đệ tử Phật sau khi Ngài Niết bàn.

Tôi rất phục ngài Di Lặc biết mình biết người, nên chịu thua trước. Điều này gợi cho chúng ta hiểu ý nghĩa hiện nay Di Lặc không xuất hiện, để mọi người mong chờ, còn hơn xuất hiện mà không giáo hóa được.

Trên thế gian, mỗi người có hoàn cảnh khó khăn riêng không tự giải quyết được. Từ đó phát sanh ý thức mong mỏi Phật ra đời trợ giúp. Các kinh Đại thừa đều chú ý đến mục tiêu này, gợi cho mọi người có tâm khát ngưỡng đối với Phật. Phật không xuất hiện trên cuộc đời, chờ cho chúng sanh có tâm mong cầu hướng về Ngài cao độ. Lúc ấy, tâm đại bi Phật hướng về chúng ta, hai tâm này nhập làm một. Trong phút giây thiêng liêng cầu nguyện, chúng ta mới nhận được Phật lực truyền đến làm tâm ta thanh tịnh. Đó là dạng giáo hóa bằng tâm của Phật, sau khi Ngài Niết bàn. Bồ tát cũng giáo hóa dưới dạng tâm.

Tuy nhiên, khi Phật tại thế, cách giáo hóa của Ngài như thế nào. Trong kinh ghi rõ Phật thuyết pháp, số người nghe áp dụng vào cuộc sống, đắc đạo đắc pháp không ít. Nhưng cũng có người không nghe Phật.

Một số người nghiên cứu đạo Phật lý luận rằng Phật có mười hiệu, nên giải quyết được tất cả. Vậy mà thực tế, họ thấy Phật không làm được gì, vì chúng sanh đau khổ vẫn còn nguyên. Theo tôi, tuy Phật giáo hóa tất cả mà vẫn còn nguyên chúng sanh đau khổ. Vì chính Đức Phật trước khi Niết bàn, Ngài khẳng định việc đáng làm Ngài đã làm, người đáng độ Ngài đã độ. Ngài đã giải quyết mọi việc tốt đẹp. Về điểm này chúng ta cần hiểu những gì Phật đã làm xong, hay cái độ tận chúng sanh của Phật. Phật xác định Ngài có ba điều làm được gọi là tam năng và ba điều không làm được là tam bất năng. Tam năng và tam bất năng gồm có:

- Phật không bị ràng buộc bởi các tướng. Ngài thấu triệt hết vạn pháp "được”, nhưng diệt định nghiệp ngay trong một lúc "không được”.

- Phật biết tất cả căn tánh chúng sanh và những việc lâu xa cùng tột ức kiếp "được”. Nhưng Ngài hóa độ chúng sanh vô duyên "không được”.

- Phật độ vô số chúng sanh "được”, mà độ tận thế giới chúng sanh "không được”.

Tam năng và tam bất năng của Phật có thể hiểu bằng thí dụ ông lương y chẩn bệnh xong cho đúng thuốc; nhưng bệnh nhân không chịu uống, không thể lành bệnh được. Không uống thuốc thì lương y cũng đành chịu thua. Công việc giáo hóa chúng sanh của Phật đã hoàn tất, giống như công việc của lương y đã cho thuốc hay. Việc uống thuốc để mạnh khỏe thuộc về chúng sanh. Ai uống tự lành. Không uống, thì cứ ôm bệnh gào khóc. Đơn giản như vậy thôi.

Thật vậy, chúng ta thấy rõ khi Phật tại thế, chúng đương cơ đắc độ khi nhìn thấy Phật. Họ tự giải thoát thanh tịnh ngay, Phật không cần nói. Nhưng đối với người cần nghe pháp, cần giáo dưỡng, trong hơn ba trăm pháp hội, Phật đã đưa họ đến quả vị thanh tịnh giải thoát. Như vậy, không thể phủ nhận Phật không độ chúng sanh. Tuy nhiên, những chúng sanh tham lam ghét ganh nghiệp nặng, Phật dạy rằng đối với họ, tên Tam bảo còn không nghe được. Đương nhiên họ không thể thấy Phật, không bước vào sống trong thế giới Phật được, nên không thuộc phạm vi giáo hóa của Ngài.

Thế giới Phật hoàn toàn thanh tịnh. Phật này chỉ cho Phật tâm. Khi tâm hành giả thanh tịnh, hướng trọn vẹn về Phật mới tương ưng với tâm của Ngài, mới thấy Ngài và nằm trong phạm vi giáo hóa của Ngài. Còn thế giới của nghiệp, của tham sân phiền não, của vọng thức, của chúng sanh, cứ để nó tồn tại. Không phải thành Phật rồi thủ tiêu các loài sinh vật trên thế gian. Điểm này cho thấy sự khác biệt giữa tâm đại bi của Phật và tâm của chúng ta.

Trong tứ sanh lục đạo, chúng ta binh vực loài này, lại rớt qua áp đảo, sát hại loài khác. Phật thể hiện lòng đại từ đại bi đối với muôn loài, Ngài không bị rơi vào thế cục bộ như chúng ta. Với tâm đại từ bi của Phật, tất cả mọi loài đều bình đẳng Nhứt Như, nên tất cả đều tồn tại. Sự hiện hữu đa dạng này không xóa. Không lẽ thành Phật rồi đoạn hết thế giới sanh diệt hay sao.

Trên lập trường siêu thoát, tất cả mọi vật tương quan tồn tại ở thế gian đều có cái hay, cái đẹp riêng của chúng. Mọi sự tồn tại theo kiến giải Đại thừa đều cần thiết, không phải tiêu diệt hết để chỉ còn một thứ, thì chán lắm!

Thế giới Phật vẫn hiện hữu trong thế giới sanh tử và thế giới sanh tử nằm trong tâm Phật. Vì vậy, trên giải thoát môn, không có chúng sanh nào nằm trong tâm Phật mà không giải thoát. Phật hoàn toàn bình đẳng, thanh tịnh giáo hóa. Cho đến người khổ đau cùng cực ở địa ngục A tỳ khi phát tâm nghĩ đến Phật, cũng hết đau khổ, được an vui ngay.

Chúng ta còn nhớ hình ảnh Vô Não quăng dao, quỳ dưới chân Phật, liền đắc La hán, giải thoát tức thời. Sự giáo hóa của Phật như vậy không vạn năng hay sao. Tại sao Vô Não giải thoát, đắc La hán dễ dàng như vậy. Chúng ta phải biết tâm trạng Vô Não lúc gặp Phật, mới nhận ra được ý nghĩa giải thoát của Đại thừa. Nếu giải chung chung rằng Vô Não quăng dao thành La hán, thì tất cả sát nhân khác quăng dao cũng thành La hán ư. Việc đó tất nhiên không thể có. Những sát nhân khác quăng dao không thành La hán nằm trong phạm vi "Bất năng” của Phật.

Phật khẳng định đối với người không có duyên đắc độ, Ngài cũng không độ được; vì càng nói nhiều, tâm thức càng phát triển, đi sâu vào rừng rậm tà kiến. Chỉ có tâm hồn chí đạo, mới được Phật khai ngộ. Cách giáo hóa của Bồ tát cũng ở dạng này.

Di Lặc thưa với Đức Thích Ca rằng không dám gặp Duy Ma, hay nói lên ý nghĩa "Bất năng”, độ hết không được. Trong lòng Từ vô lượng của Di Lặc làm gì có chúng sanh đau khổ. Đau khổ và thanh tịnh của chúng ta được hình thành bằng thế giới Đâu Suất nội viện và Đâu Suất ngoại viện. Hoặc điều ấy diễn tả thế giới Phật ở hai mặt "Năng” và "Bất năng”.

"Năng” là ở trong nội viện, hay trong bản tâm thanh tịnh. "Bất năng” là ở ngoại viện, hay hiện tượng giới bên ngoài. Đối với hiện tượng giới bên ngoài, hành giả không làm gì khác hơn được. Nhưng về mặt bản tâm thanh tịnh, hành giả ở bất cứ tình huống nào mà không được giải thoát. Điểm này chúng ta dễ thấy rõ qua hình ảnh các vị Sa môn sống đạm bạc với tâm hồn tràn đầy an lạc giải thoát. Trong khi những người quá dư thừa tiện nghi vật chất, họ vẫn không được hưởng chút hương vị giải thoát.

Đối với vấn đề khôn dại cũng vậy. Có người rất khôn, nhưng quá khổ. Còn những người được coi như không biết tính toán, mà suốt đời lại an lành. Thiết nghĩ từng bước chân đi trên cuộc đời, muốn giải thoát, hãy vào sống trong Đâu Suất nội viện, tức trở về với bản tâm thanh tịnh. Muốn đau khổ thì cứ lăn xả ra Đâu Suất ngoại viện, sống với hiện tượng giới. Hai thế giới quan này thường quyện với nhau. Niệm trước thanh tịnh, niệm sau đau khổ, cứ như vậy liên tục tiếp nối không ngừng trong cuộc sống tu hành của chúng ta.

Ở đây vẽ lên thế giới Đâu Suất nội viện của Di Lặc để chuẩn bị làm Phật. Trên bước đường tu, đối với người có căn lành, thường chập chờn trước mắt thế giới quan này, khi thấy khi không. Nghiệp của chúng ta khởi lên, thì Đâu Suất nội viện tan thành mây khói. Nhưng nghiệp lắng đọng, tâm hồn thanh tịnh, tức thì lầu các cung điện của Đâu Suất nội viện hiện ra rực rỡ. Thế giới này tùy thuộc ở tâm mà hình thành.

Phật muốn giới thiệu thế giới thanh tịnh bản tâm, nên gọi Di Lặc đi thăm bệnh Duy Ma. Nghĩa là từ thế giới nội viện đi ra thế giới ngoại viện. Ở ngoại viện thì "Bất năng” không kham nổi, nhưng vào nội viện, Di Lặc vẫn tiếp tục giáo hóa chư Thiên.

Trong kinh Tiểu thừa chỉ có Di Lặc được thọ ký thành Phật. Tại sao Di Lặc được thọ ký. Di Lặc là Bồ tát từ nhân hướng quả, được Phật thọ ký để xác định rằng đệ tử Phật nếu tiến đúng lộ trình tu Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, khi đầy đủ đạo hạnh cũng thành Phật. Không phải chỉ có Phật tu, mới thành Phật như đại chúng thường nghĩ lầm.

Phật cho biết từ vô lượng kiếp Di Lặc tu tâm Từ, đạt đến đại định, hiện tướng hoan hỷ, ai thấy cũng thương. Phật chọn mẫu Di Lặc như vậy làm người thừa kế, tất nhiên không ai thắc mắc.

Tên Di Lặc nghĩa là từ tâm. Duy Ma là tịnh tâm. Hai tâm này cần đi đôi với nhau. Thật vậy, khi ta có lòng Từ và thể hiện lòng Từ phổ cập mọi người, nhưng thiếu tâm thanh tịnh, cũng dễ đưa đến sự sai lạc. Vì vậy, phần kiểm chứng bên trong mới quan trọng. Làm rất nhiều việc lợi ích cho người, mà không được rời bản tâm thanh tịnh. Ngài Duy Nhiên Thiền sư cũng nhắc nhở chúng ta nhập cuộc với trần lao, dấn thân vào tất cả việc, không được để cho lòng bị dao động, nhiễm ô với đời.

Tịnh tâm và Từ tâm nói chuyện với nhau, thể hiện bằng hai việc làm của Bồ tát, hay hai đức tánh của con người. Từ tâm chỉ hiện hữu trong chánh định, bên ngoài không có được. Nó xuất phát từ bản tâm thanh tịnh.

Trên quá trình tu hành, Di Lặc phát tâm Bồ đề chuyên tu tâm Từ. Hành động và tâm niệm của ngài chỉ có mục tiêu mang niềm vui cho chúng sanh. Với tâm niệm đó, ngài được Phật Thích Ca thọ ký thành Phật. Được thọ ký xong, ngài an trú ở cung Trời Đâu Suất nội viện. Phật Thích Ca trước khi thành Phật tên Hộ Minh cũng ở cung trời Đâu Suất nội viện, nhưng khác ở điểm Hộ Minh tái sanh vào thế giới Ta bà nhơ xấu để giáo hóa chúng sanh tham sân phiền não cang cường bướng bỉnh.

Còn Di Lặc với nụ cười hoan hỷ, mang tên Từ tâm Bồ tát. Khi ngài sanh lại, thế giới này không khổ, không bị làm nhục như Phật Thích Ca. Thế giới của ngài là Tịnh độ đất bằng lưu ly, không có tâm ô uế của con người, chỉ thuần có Bồ tát. Ngài ngồi dưới cội Long Hoa thuyết pháp. Cách thuyết pháp của Di Lặc không giống Phật Thích Ca nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngã. Người chỉ nhìn tòa của Di Lặc ngồi, thấy hoa nở, tâm liền thanh tịnh, thấy nụ cười Di Lặc liền phát tâm; không cần tu một cách khổ cực như chúng sanh ở thời Phật Thích Ca. Pháp tu của mỗi Đức Phật tùy theo hạnh nguyện mà có khác nhau.

Di Lặc vừa nhận chức cai quản Đâu Suất, thì Duy Ma xuất hiện. Điều này gợi nhắc chúng ta dấn thân hành đạo mới thấy lúc chưa làm, tâm chúng ta bình thản như mặt nước hồ thu. Đến khi khởi niệm làm, dù trái hay phải, vấn đề liền được đặt ra. Vì vậy, đây là điều kiện để đo Bồ đề tâm, đo khả năng tri giác và đức nhẫn của chúng ta. Ý thức được điều quan trọng tất yếu này của người tu Bồ tát đạo, chúng ta phải chuẩn bị tâm tưởng để khỏi bị đánh bất ngờ. Phải thấy trước chướng ngại xảy đến. Nếu không, chúng ta dễ bị đánh ngã.

Khi Di Lặc được thọ nhiệm ở Đâu Suất giáo hóa chư Thiên thay thế Hộ Minh Bồ tát, tất cả thử thách đương nhiên xảy đến với ngài. Chư Thiên đang nghe Di Lặc giảng đạo Bồ tát thì Duy Ma xuất hiện khuấy phá. Điều này gợi nhắc chúng ta sẽ gặp phiền não của "Tịnh” khi bước vào thế giới tâm linh, thường được gọi là trần sa vô minh hoặc. Thật vậy, ban ngày bận rộn nhiều việc, nhận thức của ta bị hạn chế. Tất cả những gì trong tiềm thức hay trong nhiều kiếp trước không hiện lên được vì bị hiện tượng giới che khuất mất. Chúng ta bị động trong cảnh động là tâm trạng của người thế gian.

Tuy nhiên, khi màn đêm buông xuống, chúng ta vào Thiền định sẽ thấy tất cả những gì chứa trong tiềm thức. Cái nào gần nhất nó bung ra trước. Đó là động trong tịnh, tức chung quanh tịnh, nhưng động từ tâm bung ra, một thứ động mà không bao giờ chúng ta tìm được trong cảnh động.

Duy Ma viếng Di Lặc trong lúc ngài đang tịnh. Nói cách khác, Di Lặc chỉ bắt gặp Duy Ma trong Định mà thôi. Theo tôi, đây là Từ tâm nói chuyện với Tịnh tâm, nghĩa là ở trạng thái yên tĩnh của Thiền định, từng sở đắc của chúng ta trong quá trình hành Bồ tát đạo tích lũy thành công đức, tự nó bộc phát lên. Riêng tôi, vào Thiền, cũng có lúc thấy lại những vị Thầy dạy mình, hay cảnh chùa tôi học đạo từ thuở nhỏ. Cuộn phim dĩ vãng này tự động chiếu lại cảnh tượng một đời cho đến nhiều đời trước. Những thứ này từ từ hiện lên lúc ta ngồi yên. Còn lăn xả vào đời, chuyện đời cứ chồng chất nhồi thêm dầy đặc; tất nhiên cái cũ khó hiện ra. Tuy nhiên, cần lưu ý khi tâm lắng xuống, chúng ta nhớ lại sự khó khăn trên bước đường hành đạo, rồi khởi niệm sân hận rớt vào sanh tử. Đó không phải là khởi niệm của Di Lặc.

Tất cả sở đắc mà Di Lặc hãnh diện đã tạo được trong lũy kiếp tu hành, khi đem trình cho Duy Ma xem, bị Duy Ma xóa sạch, để đưa Di Lặc đến giải thoát. Cách tu này của Di Lặc ở thế giới Thiền định nhắc nhở chúng ta đừng ôm ấp thành tích huân chương, không khéo đọa vào tăng thượng mạn. Nhờ Duy Ma dạy Di Lặc hay dạy chúng ta, thấy tất cả thành tích tu hành trong quá khứ phải xả bỏ mới đắc đạo. Trước kia, nó cần cho chúng ta trên bước đường tu bao nhiêu, thì nay nó trở thành chướng ngại bấy nhiêu. Ý này thường được ví như qua sông cần thuyền. Vượt đường hiểm sanh tử phải tu tạo phước đức và trí tuệ giống như lượm gỗ kết bè qua sông. Không có phước đức và trí tuệ không thành Phật. Nhưng qua sông, lên bờ, không thể ôm thuyền đi.

Trước khi Bồ tát Di Lặc thành Phật, lần cuối phải giải quyết phần công đức tồn đọng, xả bỏ tất cả. Di Lặc gặp Duy Ma khuấy phá để nói lên ý nghĩa từ hiện tượng giới bên ngoài tích lũy công đức dưới dạng Bồ tát Báo thân, cần xả hết, để thành Phật chứng được Pháp thân thanh tịnh. Lúc ấy, trần lao và Pháp giới nhập làm một, trụ ở bản thể mà hành đạo trên thế gian, mới không vấp ngã vì chướng ngại. Còn hoàn toàn ở trên sanh diệt cuộc đời mà hành đạo, chúng ta khó bề vượt khỏi trùng trùng điệp điệp chướng ngại bao vây nối tiếp nhau. Đó là cuộc vấn đáp giữa Duy Ma và Di Lặc hay giữa Từ tâm và Tịnh tâm mà chúng ta nghe được.

Đức Phật thọ ký cho Di Lặc Bồ tát thành Phật, là người thừa kế Thích Ca làm giáo chủ. Vấn đề thừa kế gợi cho chúng ta suy nghĩ thừa kế Thích Ca về vật chất hay tinh thần. Thừa kế tinh thần, thì không cần thọ ký. Người nào có đủ tư cách thay thế Phật trên thế gian, người đó là thừa kế, không riêng gì Bồ tát Di Lặc.

Thừa kế tinh thần thì cốt sao chúng ta có đủ trình độ tu chứng đạt được vị trí giống người đi trước. Thừa kế vật chất nằm trên sanh diệt dễ đi đến sụp đổ và phá sản, khi chùa cao Phật lớn trở thành mối tranh chấp quyền lợi trong Nhà lửa tam giới. Điển hình như những ngôi chùa một trăm năm trước hưng thịnh, nhờ đạo hạnh của các Tổ sư. Ngày nay, không có người thừa kế sự nghiệp tinh thần, chỉ còn là di tích lịch sử hoang vắng.

Nghe Đức Thích Ca thọ ký cho Di Lặc một đời thành Phật, Duy Ma bắt đầu suy nghĩ, nghĩa là từ bản tâm của ta tự chất vấn ta, một đời thành Phật là đời nào. Suy nghĩ sâu hơn, nói đến một đời khiến chung ta liên tưởng nhiều đời là chuỗi thời gian từ quá khứ dẫn đến hiện tại và xuyên suốt tương lai. Một đời của Di Lặc là quá khứ, hiện tại hay vị lai. Nếu một đời là quá khứ, thì quá khứ đã trôi qua, là hiện tại thì hiện tại không dừng. Trong sanh có diệt và ngược lại trong diệt có sanh, niệm niệm sanh diệt không ngừng.

Nếu một đời chỉ cho thân tứ đại ngũ uẩn, thì thân này luôn luôn chuyển đổi từ vi trần này thành vi trần khác, chịu sự chi phối của luật đào thải, biến hóa trong từng sát na. Như vậy, trong thân con người quán sát, nó luôn sanh và chết. Di Lặc lấy cái nào trong con người để được thọ ký.

Một đời trên sanh diệt môn luôn luôn chuyển đổi, có gì đáng cho ta quan tâm. Và cuộc đời hạn cuộc trong một lần sanh, một lần chết, thì Duy Ma chẳng muốn được thành Phật làm gì.

Một đời theo Đại thừa đánh dấu từ khi phát tâm cho đến thành Phật. Thời gian không quyết định trong một kiếp người sanh diệt, nên sinh mệnh của Bồ tát gọi là sinh mệnh tương tục. Từ lúc phát tâm, từng kiếp tu hành liên tục, cho đến thành Phật, giống như xâu chuỗi có nhiều hạt. Mỗi hạt tượng trưng cho một lần Bồ tát thay đổi xác thân. Và sinh mệnh tương tục của Bồ tát là sợi dây nối liền các hạt chuỗi lại không gián đoạn.

Tuy nhiên, Bồ tát không lấy tứ đại ngũ uẩn làm sinh mệnh. Vì đứng ở lập trường Bồ tát, tứ đại này không khác gì chiếc áo bên ngoài, tâm Bồ đề bên trong mới thực là sinh mệnh của Bồ tát.

Hàng Nhị thừa hiểu lầm Di Lặc được thọ ký lên Đâu Suất và sau đó giáng xuống Ta bà thành Phật. Cách hiểu này không đúng. Theo Đại thừa, thành Phật hay không là do quá trình tu tập của hành giả. Đức Phật không nói hư vọng, nhưng đừng hiểu thọ ký là Phật cho Bồ tát quả vị Phật.

Ngài thọ ký cho Bồ tát từ nhân hướng quả, để xác định quá trình tu chứng được Báo thân phải thể nghiệm đầy đủ Bồ tát hạnh. Nghĩa là không chỗ nào Bồ tát không thị hiện, không việc nào Bồ tát không làm. Bồ tát hiện hữu trong tứ sanh lục đạo với tư cách cứu khổ chúng sanh.

Khi tu Bồ tát đạo, Bồ tát xả vô số sanh thân, trải qua vô số sinh mệnh tương tục, tiến đến thành tựu Báo thân, chứng Pháp thân, thâm nhập Pháp giới mới thành Phật. Lúc ấy, Báo thân của Bồ tát tu chứng sát nhập vô Pháp thân thường hằng, để trở thành diệu dụng của Bồ tát là ứng xử lợi lạc trong mọi tình huống. Đó là quá trình Bồ tát phải trải qua để được thọ ký. Không phải được thọ ký thành Phật, rồi thành ngay.

Ngoài ra, chúng ta cần lưu ý rằng không phải thân ngũ uẩn thành Phật. Tuy nhiên, bỏ ngũ uẩn, chúng ta cũng không thành Phật được. Trên bước đường tu, sử dụng ngũ uẩn thân để đoạn phiền não. Phiền não xóa sạch, chơn tâm hay Pháp thân thường trú sẽ hiển hiện. Thiền tông thường ví chơn tâm như cái gương bị bụi ngũ uẩn ngăn che. Nếu lau sạch bụi ngũ uẩn, chơn tâm tự hiện. Đó là ý nghĩa Phật thọ ký cho Di Lặc.

Về vấn đề chơn tâm, chúng ta đừng hiểu lầm nó là cái gì chúng ta tạo được. Trong dòng sinh mệnh tương tục của Bồ tát, từ khi phát tâm tu, trải qua quá trình gia công đoạn phiền não, sau cùng thành Phật phát hiện Pháp thân thường trú. Trong suốt quá trình tu này, Pháp thân Bồ tát vẫn vĩnh hằng không thay đổi. Nó có từ khi hành giả chưa phát tâm, khi tu nó vẫn có và đến khi thành Phật cũng vẫn là nó. Khi thành Phật, Pháp thân hành giả không thêm không bớt. Lúc còn là phàm phu, nó không giảm.

Chính ở dạng pháp tánh bất sanh bất diệt này, không cần đặt vấn đề thọ ký. Vì bản thể vốn Vô sanh, bản lai diện mục của ta từ nghìn xưa cho đến nay và mãi đến nghìn sau, không thay đổi. Thật vậy, Duy Ma quan sát trong thân sanh diệt hàm chứa tâm niệm luôn biến đổi, giống như dòng thác không ngừng. Trong sự chuyển đổi không dừng của thân tâm, Duy Ma nhận chân được Pháp thân kỳ diệu không chuyển đổi gọi là Chánh vị.

Ở dạng không thay đổi bất sanh bất diệt, Duy Ma thấy Di Lặc, chúng sanh và ngài đồng một thể tánh. Như vậy Duy Ma, Di Lặc và chúng sanh đều thành Phật, thì cần gì phải thọ ký cho riêng Di Lặc một đời sẽ thành Phật.

Tóm lại, Duy Ma nhắc nhở Di Lặc cũng là nhắc nhở chúng ta nên kế thừa sự nghiệp tinh thần của Phật. Đi theo con đường Bồ tát, chúng ta phát huy đời sống tâm linh càng thăng hoa càng tốt đẹp, trở thành một biểu tượng tri thức và đạo đức không ai tranh giành được.

Di Lặc Bồ tát không kham lãnh thăm Duy Ma. Phật dạy Quang Nghiêm đồng tử đến thăm Duy Ma.

Quang Nghiêm đồng tử là Bồ tát ly trần, hoàn toàn trong sạch, từ nhỏ đến lớn, không phạm lỗi lầm nào. Ngài chuyên tu sửa mình, hoàn toàn thánh thiện, trở thành mẫu người mô phạm tiêu biểu, không có gia đình gọi là đồng tử.

Quang Nghiêm đồng tử chính là mẫu Bồ tát theo kinh Pháp Hoa diễn tả vì thương nhân gian mà sanh lại. Ở đây cần giải thích rõ sự khác biệt giữa Bồ tát thương nhân gian sanh lại mang ngũ ấm thân và chúng phàm phu mang thân ngũ ấm.

Khi Bồ tát thọ ngũ ấm thân, Bồ tát tâm hay bản vị Pháp thân Bồ tát bị ngăn che. Từ nh