cool hit counter

I. LƯỢC VĂN KINH

Đức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi đến thăm bệnh Duy Ma. Văn Thù bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, bực thượng nhân kia khó bề đối đáp. Vì ông ấy thâm đạt thật tướng, trí tuệ vô ngại, biện tài thông suốt, thâm nhập kho tạng bí mật của chư Phật, thần thông tự tại, v.v… Tuy thế, con xin vâng lời Phật dạy đến thăm bệnh ông”.

Lúc ấy, trong đại chúng, các hàng Bồ tát và đại đệ tử, Đế Thích, Phạm Thiên đều nghĩ rằng hôm nay Văn Thù và Duy Ma sẽ nói pháp mầu. Tức thời tám ngàn Bồ tát, năm trăm Thanh văn và trăm ngàn thiên nhơn, đều muốn đi theo.

Văn Thù cùng đại chúng đi vào thành Tỳ Da Ly. Lúc ấy, trưởng giả Duy Ma Cật thầm nghĩ rằng Văn Thù và đại chúng sắp đến viếng thăm. Ngài liền dùng sức thần thông làm cho nhà trống rỗng, không có vật gì cũng không có thị giả. Chỉ có một chiếc giường để ngài nằm.

Khi Văn Thù vào nhà, Duy Ma chào rằng: "Ngài Văn Thù mới đến, tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy”.

Văn Thù trả lời: "Phải đấy, nếu đã đến tức là không đến, nếu đã đi tức là không đi. Vì sao?Đến không từ đâu đến, đi không đến nơi đâu. Hễ có thấy tức là không thấy. Thôi, việc ấy hãy để đó. Cư sĩ bệnh có chịu nổi không. Bệnh có bớt không. Thế Tôn ân cần hỏi thăm ngài. Bệnh của cư sĩ do đâu mà sanh, sanh đã bao lâu, phải thế nào mới mạnh”.

Duy Ma đáp: "Từ nơi si mà có ái, bệnh tôi sanh. Vì chúng sanh bệnh, nên tôi bệnh. Nếu chúng sanh không bệnh, thì bệnh tôi lành. Vì sao? Bồ tát vì chúng sanh mà vào đường sanh tử. Hễ có sanh tử thì có bệnh. Nếu chúng sanh khỏi bệnh, Bồ tát không có bệnh. Ví như trưởng giả chỉ có một người con. Khi người con bệnh, thì cha mẹ cũng bệnh. Nếu bệnh của con lành, cha mẹ cũng mạnh. Bồ tát cũng thế đối với chúng sanh, thương mến như con, nên chúng sanh bệnh, Bồ tát bệnh. Bồ tát có bệnh là do lòng đại bi”.

Văn Thù Sư Lợi hỏi: "Nhà này vì sao trống không và không có thị giả”.

Duy Ma đáp: "Cõi nước của chư Phật đều Không”.

- Lấy gì làm Không?

- Lấy Không làm Không.

- Đã Không thì cần gì phải Không?

- Vì không phân biệt, nên Không.

- Không phải tìm nơi đâu?

- Phải tìm trong sáu mươi hai kiến chấp.

- Sáu mươi hai kiến chấp phải tìm nơi đâu?

- Phải tìm trong các pháp giải thoát của chư Phật.

- Pháp giải thoát của chư Phật tìm nơi đâu?

- Phải tìm nơi tâm hạnh của tất cả chúng sanh.

Ngài lại hỏi: "Vì sao không có thị giả”.

Duy Ma đáp: "Tất cả chúng ma và ngoại đạo đều là thị giả của tôi”.

Văn Thù hỏi: "Bệnh của cư sĩ tướng trạng thế nào”. Duy Ma đáp: "Bệnh của tôi không hình, không tướng, không thể thấy”.

- Bệnh ấy hiệp với thân hay tâm?

- Không hiệp với thân, vì thân tướng vốn lìa. Không hiệp với tâm, vì tâm như huyễn.

- Địa đại, thủy đại, phong đại, hỏa đại, trong bốn đại, bệnh thuộc về đại nào?

- Bệnh không phải bốn đại ấy, cũng không lìa bốn đại ấy. Bệnh của chúng sanh từ tứ đại mà khởi, vì chúng sanh bệnh nên tôi bệnh.

Văn Thù hỏi tiếp Duy Ma: "Bồ tát không bệnh an ủi Bồ tát có bệnh thế nào”.

Duy Ma đáp: "Nói thân vô thường, nhưng không nhàm chán thân. Nói thân khổ, nhưng không thích Niết bàn. Nói thân vô ngã, nhưng khuyên dìu dắt chúng sanh. Nói thân không tịch, nhưng đừng tịch diệt. Lấy bệnh mình mà thương bệnh người. Phải biết cái khổ vô số kiếptrước. Phải nghĩ sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, v.v…”

Văn Thù hỏi: "Bồ tát có bệnh phải điều phục tâm mình như thế nào”.

Duy Ma đáp: "Bồ tát có bệnh phải nghĩ rằng bệnh đều từ phiền não, điên đảo vọng tưởng đời trước sanh ra, là pháp không thực có, lấy ai chịu bệnh đó. Vì sao? Vì tứ đại hòa hợp giả gọi là thân. Tứ đại không chủ, thân cũng không ngã. Lại nữa, bệnh này khởi ra do chấp ngã. Nên nghĩ rằng thân này do các pháp hiệp thành, v.v…

"Bồ tát có bệnh nên nghĩ thêm rằng bệnh của ta không phải thật, không phải có. Bệnh của chúng sanh cũng vậy.

"Khi quán sát như thế, đối với chúng sanh, nếu có khởi lòng đại bi ái kiến, thì phải bỏ ngay. Vì sao? Bồ tát phải dứt trừ khách trần phiền não mà khởi đại bi. Còn đại bi ái kiến đối với sanh tử có tâm nhàm chán. Nếu lìa được ái kiến, thì không có tâm nhàm chán. Sanh ra nơi nào, không bị ái kiến che đậy, không còn bị sự ràng buộc. Lại nói pháp cởi mở sự ràng buộc cho chúng sanh.

"Vì thế Bồ tát không nên khởi những sự ràng buộc. Sao gọi là ràng buộc? Sao gọi là giải thoát? Tham đắm nơi Thiền vị là Bồ tát bị ràng buộc. Dùng phương tiện thọ sanh là Bồ tát được giải thoát. Không có phương tiện huệ thì buộc. Có phương tiện huệ thì giải.

"Sao gọi là không có phương tiện huệ thì buộc? Bồ tát dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ thành tựu chúng sanh. Ở trong pháp Không, vô tướng, vô tác mà điều phục lấy mình, đó là không có phương tiện huệ thì buộc. Bồ tát trụ nơi phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến, v.v… mà trồng các cội công đức, hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng giác, đó là không có huệ phương tiện thì buộc.

"Sao gọi là có huệ phương tiện thì giải? Bồ tát không dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh. Ở trong pháp Không, vô tướng, vô tác mà điều phục lấy mình, không nhàm chán mệt mỏi, đó là có phương tiện huệ thì giải. Bồ Tát lìa phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến, v.v… mà vun trồng các cội công đức, hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng giác, đó là có huệ phương tiện thì giải.

"Ngài Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát có bệnh phải quán sát các pháp như thế. Ngoài ra, quán thân vô thường, khổ, không, vô ngã, đó là huệ. Dù thân có bệnh, vẫn ở trong sanh tử làm lợi ích cho chúng sanh không nhàm mỏi, đó là phương tiện.

"Cũng quán thân không rời bệnh, bệnh chẳng rời thân. Bệnh này, thân này không phải mới, không phải cũ, đó là huệ. Dù thân có bệnh mà không nhàm chán trọn diệt độ, đó là phương tiện, v.v…

"Ngài Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát có bệnh nên điều phục tâm mình như thế. Bồ tát không nên trụ nơi tâm điều phục hay không điều phục. Lìa hai pháp ấy là hạnh Bồ tát.

"Ở trong sanh tử mà không bị nhiễm ô, ở nơi Niết bàn mà không diệt độ, là hạnh Bồ tát. Không phải hạnh phàm phu, không phải hạnh Hiền Thánh là hạnh Bồ tát. Không phải hạnh nhơ, không phải hạnh sạch là hạnh Bồ tát.

"Quán mười hai duyên khởi mà vào các tà kiến, nhiếp độ chúng sanh mà không mê đắm chấp trước, tuy quán "Không” mà gieo trồng các cội công đức, là hạnh Bồ Tát.

"Dù thực hành vô tướng mà cứu độ chúng sanh, dù thực hành vô tác mà quyền hiện thọ thân là hạnh Bồ tát. Dù thực hành sáu pháp Ba la mật mà biết khắp các tâm, tâm sở của chúng sanh là hạnh Bồ tát.

"Dù thực hành bảy Pháp Giác chi mà phân biệt rõ rệt trí tuệ của Phật là hạnh Bồ tát. Dù thực hành tám Pháp Chánh đạo mà ưa tu vô lượng Phật đạo là hạnh Bồ tát. Dù tùy theo tướng hoàn toàn thanh tịnh của các pháp mà ứng hiện thân là hạnh Bồ tát. Dù chứng được quả Phật, chuyển pháp luân, nhập Niết bàn mà không bỏ đạo Bồ tát là hạnh Bồ tát, v.v…”

Khi Duy Ma Cật nói xong, đại chúng đi theo ngài Văn Thù Sư Lợi, trong đó có tám ngàn vị Thiên tử đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

 

II. GIẢI THÍCH

Kinh Duy Ma tiêu biểu cho sự kết hợp giữa lý trí thực tiễn và sinh hoạt tôn giáo gọi là Bất nhị pháp môn. Nhờ đó, ứng dụng giáo lý Phật vào cuộc đời, không hề chống trái. Đó là mô hình trí thức tín ngưỡng rất quan trọng. Thật vậy, chúng ta không thể hoàn toàn thuần suy lý. Ý này trong kinh Pháp Hoa gọi là tín giải.

Kinh Duy Ma mở đầu với kiến giải rằng nhờ có sự hiểu biết, sanh ra niềm tin. Và từ niềm tin tác dụng cho sự phát triển hiểu biết. Tu dưới dạng này được xem như bước trên con đường Pháp Hoa. Theo tôi, kinh Duy Ma thuộc một trong ngũ chủng Pháp Hoa, hay là một dạng khác của kinh Pháp Hoa.

Chúng ta quan sát, thấy có ba hạng người. Hạng thứ nhất tuy thông thạo giáo lý, nhưng không có niềm tin, không có cuộc sống giải thoát như họ thường giảng dạy. Phật ví họ như người có mắt vào Bảo sở, nhưng không có tay, nên không lấy được của báu. Nghĩa là giáo pháp không tươi nhuận cho cuộc sống, họ không hưởng được chút Phật pháp nào cả.

Hạng người thứ hai thuộc loại tu mò, có niềm tin mà không có tri thức. Giống như người có tay mà không có mắt, vào Bảo sở, mò mẫm, bốc trúng cái nào, lấy cái đó. Ý này tiêu biểu cho Bồ tát tu hành có sở đắc riêng, bằng niềm tin thấy đạo và chỉ hưởng được hương vị giải thoát theo sở đắc của mình. Vì vậy đắc đạo, đắc pháp của hàng Tam thừa không giống nhau.

Hạng thứ ba vừa có mắt vừa có tay, tùy ý lựa chọn của báu trong Bảo sở, tiêu biểu cho hàng Bồ tát vô sở đắc, hay Bồ tát của kinh Duy Ma vừa có niềm tin vừa có trí tuệ.

Kinh Duy Ma tuần tự triển khai cho chúng ta thấy sự kết hợp khéo léo, đầy đủ giữa tri thức và đạo đức của Bồ tát vô sở đắc.

Từ phẩm 1 đến phẩm 4 giới thiệu bối cảnh có Phật và đệ tử của Ngài là Thanh văn và Bồ tát. Thanh văn và Bồ tát được xếp vô phương tiện, hay Quyền thừa. Các tông phái tranh luận về vấn đề này và đưa đến hai lập trường trái ngược nhau. Theo ngài Từ Ân, Tam thừa là thật, Nhất thừa là quyền. Ngược lại, Trí Giả cho Nhất thừa là thật, Tam thừa là quyền.

Kinh Duy Ma xác định Thanh văn và Bồ tát sở đắc thuộc Tam thừa giáo, đều không đạt được chân lý, chỉ hiểu được một phần, nên việc làm còn giới hạn. Vì vậy, đến phẩm này, Văn Thù Sư Lợi đăng tràng để chỉ ý nghĩa của Bồ tát vô sở đắc hay Nhất thừa tiêu biểu cho sự hiểu biết toàn diện. Từ đây mới ứng dụng giáo lý vào đời có kết quả, mới giải quyết được vấn đề bệnh, hay nghiệp chúng sanh. Đó là vấn đề tồn đọng bức thiết, nằm ngoài tầm tay của chúng Tam thừa. Thanh văn hướng về giải thoát, ly trần. Bồ tát sở đắc của Tam thừa tuy vào đời, nhưng việc rắc rối của cuộc đời không giải quyết được.

Duy Ma tiêu biểu cho cuộc đời. Hay nói chung, chúng sanh, chúng sanh nghiệp và chúng sanh phiền não là ba việc tồn tại phải giải quyết xong mới đưa người tới cứu cánh Niết bàn. Các phương thuốc của Phật trao cho Thanh văn và Bồ tát trong Tam thừa mà họ đã từng sử dụng có kết quả, đắc đạo và giải tỏa sự nghi ngờ, khai ngộ cho chúng sanh. Nhưng đối với bệnh của Duy Ma là bệnh trầm kha, họ phải chịu thua. Điều này gợi cho hành giả ý thức rằng có việc chúng ta làm được, có việc không làm nổi. Có người độ được, nhưng có người ta nói một lời, họ cũng không nghe.

Pháp Tam thừa của Phật khai ra ở đây tiêu biểu bằng một ngàn hai trăm La hán và các Bồ tát Quyền thừa. Nói rõ hơn, mười bốn vị đệ tử được Phật sai đến thăm Duy Ma (Bốn Bồ tát và mười Thanh văn) chạm trán với Duy Ma phải chấp nhận sự thất bại. Điều này nhằm ám chỉ giáo lý Phật để lại, nhưng chúng ta vận dụng vào đời không có kết quả. Trên bước đường hoằng truyền chánh pháp, phải vấp ngã nhiều lần, vì sự hiểu biết của chúng ta còn quá non kém.

Con số một ngàn hai trăm gợi cho chúng ta liên tưởng đến mười hai xứ (sáu căn, sáu trần) kết hợp với một trăm pháp (10 giới x 10 Như thị), 100 pháp x 12 = 1.200 là nhận thức của A la hán về các pháp trên cuộc đời.

Đối với những người sử dụng căn trần sẽ có một ngàn hai trăm La hán tương ưng giáo hóa. Mỗi vị giáo hóa một cách trong phạm vi chuyên môn của mình đều hạng nhất. Nhưng những vị này không chữa được bệnh của Duy Ma, vì bệnh Duy Ma quá nặng. Theo ngài Long Thọ, phải dùng chất độc mới cứu được. Các Thanh văn và Bồ tát Tam thừa không có loại thuốc này.

Sử dụng chất độc nghĩa là Trung đạo đệ nhất nghĩa đế của Long Thọ Bồ tát. Vấn đề này chúng ta thường hay sai lầm, khi phân chia các pháp làm hai phần rõ rệt là Niết bàn và sanh tử. Điều này dễ khi chia trắng ra trắng, đen ra đen; nhưng ở Trung đạo, đen cũng là trắng, mà trắng cũng là đen. Nói cách khác, hành giả phải giải thoát ngay trong sanh tử là vấn đề không đơn giản. Thật vậy, khởi tu, nghe nói pháp của Bồ tát mau thành tựu quả vị Phật, ai cũng ham thích; nhưng khi va chạm thực tế cuộc đời, không tự giải quyết được, đanh bỏ cuộc. Theo pháp môn Bất nhị hay Phật thừa, Nhất thừa thì phải giải thoát ngay trên cuộc đời.

Chúng Thanh văn, Bồ tát trong Tam thừa không làm nổi; vì các ngài một chân bước vào sanh tử, một chân vướng ở Niết bàn. Bồ tát Tam thừa tự hành hóa tha là Bồ tát nhỏ, chưa liễu thoát, đi vào trần thế không được. Chỉ có Bồ tát Nhất thừa dạo chơi trong sanh tử tự tại. Vì các ngài đứng ở lập trường vô trước vô phược, không trước sanh tử, không trụ Niết bàn, hoàn toàn giải thoát. Niết bàn và sanh tử đối với các ngài là một.

Đức Phật lựa mười đệ tử đại diện cho một ngàn hai trăm La hán tiêu biểu cho căn trần tiếp xúc, để giải quyết những việc thực tế của con người, thì Thanh văn làm được. Nhưng sự đòi hỏi của Duy Ma không phải ở điểm căn trần chấp đối. Hay nói cách khác, giáo lý Tiểu thừa không giải quyết được, giáo lý Quyền Đại thừa cũng không giải quyết được. Chỉ có giáo lý thật Đại thừa mới có tác dụng.

Giáo lý Tiểu thừa sử dụng trong thời chánh pháp, người nghe chấp nhận. Điều này tương đối không khó. Tiến lên giáo lý Quyền Đại thừa trong thời tượng pháp, khi chúng sanh lòng hay thay đổi và mất niềm tin, thì phải dùng mọi cách lý luận cho họ chấp nhận là thời A Tỳ Đạt Ma có các bộ phái ra đời. Tuy nhiên nó chỉ có giá trị ở thời đó. Và đến giáo lý thuần Đại thừa trong thời mạt pháp thuộc thời đại văn minh. Nhiều người học cao, lý luận vững, bảo họ cúi đầu tin nghe không thể được. Đến đây đòi hỏi người sử dụng thuốc phải có tài, vì sai một chút là chết.

Theo Trung đạo đệ nhất nghĩa đế của Long Thọ Bồ tát phải giải thoát ngay trên cuộc đời. Đó là liều thuốc công phạt bệnh hiểm nghèo hay nhất trong thời mạt pháp vậy. Sự thật lịch sử đã chứng minh điều này. Phật giáo Đại thừa ở Nhật Bản hay Việt Nam với các nhà sư dấn thân xả kỷ, tạo cho các ngài phong cách giải thoát, giải thoát trong danh dự, không phải giải thoát bằng cách trốn nghĩa vụ. Các ngài làm lợi lạc cho đời hưởng, nhưng ai dám phủ nhận Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông không giải thoát. Chính những vị này phất ngọn cờ Đại thừa đầu tiên cho Phật giáo. Không có đoi tay và khối óc của các ngài đóng góp hữu ích cho đất nước, Phật giáo chúng ta không có ngày nay.

Vì vậy, người làm được công việc kết hợp đạo và đời dung thông, không dễ tìm. Ở thời mạt pháp chỉ cần có một người xứng đáng một người, như Pháp sư Ngô Chân Lưu ở thời Đinh, hay Vạn Hạnh ở thời Lý. Và trong kinh Duy Ma chỉ có Văn Thù mới giải quyết việc mà người thường làm không nổi.

Duy Ma khởi niệm Phật không thương xót ông bệnh, thì Phật liền biết. Và Văn Thù nhận lời Phật dạy đến thăm Duy Ma, Duy Ma cũng liền biết. Nghĩa là khi hành giả đau khổ, với lòng chí thành hướng về Phật cầu nguyện, Phật chứng biết. Và Ngài cho người đến giải nghiệp vàphiền não, trưởng dưỡng Bồ đề tâm cho hành giả. Đó cũng là kinh nghiệm tu hành của tôi, gặp vấn đề nan giải, cảm thấy không vượt qua được, tôi nhứt tâm cầu nguyện, thì bất ngờ có thiện tri thức và minh sư đến với tôi, giải quyết mọi việc nhẹ nhàng. Tôi cảm nghĩ như Phật sai Bồ tát trợ duyên cho tôi làm đạo. Trên bước đường tu hành, tôi gặp thiện tri thức cả hai mặt tốt và xấu. Đối với người tốt, tôi cám ơn đã đành; nhưng đối với người xấu ác, tôi thầm cám ơn nhiều hơn, vì chính nhờ họ mà tôi thấy đạo. Nghịch cảnh xảy ra, hãy kiểm tâm xem ta sanh khởi niệm gì, tham sân si phiền não còn không. Lúc gặp thuận duyên, chúng ta có khởi tâm kiêu mạn hay không.

Đời tôi thường gặp nghịch cảnh nhiều, nên tôi giàu kinh nghiệm trên bước đường tu. Người đến, ta nhìn mặt, nghe giọng nói, thấy dáng đi, biết họ thuộc hạng nào. Thủ đoạn của cuộc đời, chúng ta thấy biết, vì đã có gặp rồi. Đối với tôi, nghịch cảnh là duyên mà Đức Phật bố trí để tạo điều kiện cho tôi làm đạo, trưởng thành trong thế giới Ta bà. Nếu không được như vậy, chắc chắn chúng sanh sẽ quay ta, không còn lối thoát.

Khi lòng thành được Phật chứng minh và gia hộ, chỉ có ta biết. Tôi có cảm giác Đức Phật ví như đài truyền hình và Bồ tát hành đạo giống như máy truyền hình. Từ làn sóng điện của đài chuyển hình về Tivi, chỗ nào có Tivi chỗ đó có hình. Việc tu hành của chúng ta cũng vậy. Khi Bồ đề tâm hướng về Phật, tùy niềm tin đối với Phật, chúng ta nhận được sự cảm ứng riêng. Đó là sự liên hệ vô hình, nhưng thật sâu xa mật thiết, khó diễn tả bằng ngôn ngữ. Chúng ta tự chứng biết, đừng nói cho người khác; vì nói ra, họ cũng không biết và không làm được. Chỉ bạch với Thầy của chúng ta để được ấn chứng, như Đạt Ma ấn chứng cho Thần Quang, Hoằng Nhẫn ấn chứng cho Huệ Năng, là hai người tự biết tự thông với nhau mà thôi. Trên bước đường tu hành, cố gắng phát triển mối liên hệ sâu xa giữa ta và Phật. Còn chuyện hơn thua bàn tán chung quanh, xin đừng quan tâm.

Bốn phẩm đầu của kinh dọn đường để chúng ta bước vào phẩm chính, tham dự cuộc đối thoại giữa Văn Thù và Duy Ma. Ở phẩm 1 và 2, Phật dạy đệ tử nên sống và làm thế nào để hình thành Tịnh độ của Bồ tát. Trụ ở Tịnh độ được an lành và trở lại thực tế cuộc đời, sống không an, là câu hỏi đặt ra cho hành giả. Vì sống không dính líu với cuộc đời, không phải là đệ tử Phật; nhưng vào đời làm mất bản tâm, cũng không được. Tâm hành giả phải luôn an trú giải thoát ở Tịnh độ. Dù góp mặt với đời, làm mọi việc, nhưng tâm vẫn không dao động. Phải nhớ dấn thân vào đời cứu khổ chúng sanh là phương tiện và thường trú chân thân mới thực là cứu cánh của hành giả.

Phẩm 3 nói về chúng xuất gia nhận thức Tịnh độ sai lầm, chỉ thuần đóng vai Thú tịch Thanh văn. Phẩm 4 chỉ rõ chúng Bồ tát tại gia và xuất gia sử dụng phương tiện sai lầm. Sau khi phê phán sự sai lầm của Thanh văn và Bồ tát, tất yếu phải mở cánh cửa đúng cho mọi người đi vào, bằng cách giới thiệu hai nhân vật là Văn Thù và Duy Ma. Cả hai vị này thể hiện mô hình hành đạo đúng pháp ở Ta bà.

Văn Thù tiêu biểu cho đại trí hay ngũ trí nghiêm thân. Đối với thế gian trí, chúng sanh nghĩ thế nào, muốn gì, Văn Thù cũng bắt gặp để đối trị. Nói chung, trần gian có bao nhiêu bệnh trạng, Văn Thù đều chữa lành. Đối với trí Thanh văn giải thoát trong Thiền định, Văn Thù cũng ứng theo đó dạy họ. Cho đến trí của Bích chi Phật, của Bồ tát, của Như Lai, Văn Thù đều thông đạt. Vì vậy trong kinh Pháp Hoa xác định Văn Thù tuy là Bồ tát, nhưng từng làm Thầy của ba đời các Đức Phật. Nghĩa là Phật quá khứ, Phật mười phương, Phật vị lai đều do phát triển trí tuệ, thành Nhứt thiết chủng trí, đạt đến quả vị Phật.

Bồ tát Văn Thù là nhân vật tiêu biểu cho trí tuệ, hoàn toàn vô hình, không phải người thật. Nói cách khác, Văn Thù chính là trí tuệ của Đức Thích Tôn. Phật nhập diệt, nhưng trí của Ngài để lại, giáo đoàn sử dụng rời rạc, méo mó, không có kết quả. Phải mượn hình ảnh Văn Thù để nói lên thật trí của Phật toàn thiện, toàn bích mới giải quyết được sự khó khăn gút mắc tồn tại.

Dưới mắt Văn Thù, ngài đã thấy rõ hoạt động của Duy Ma, thấy rõ Duy Ma là người ai cũng nể sợ, khó bề đối đáp với ông. Với ngũ trí nghiêm thân, ngài quan sát năm trường hợp Duy Ma hành động đều xuất sắc. Về phương diện thế gian, Duy Ma nhận thức trên tất cả. Ở mặt suy lý, tức lý giải của Thanh văn, ông cũng trội hơn và đối với Bích chi Phật, ông cũng vượt hẳn. So với việc làm của Bồ tát, ông cũng đầy đủ hơn. Sau cùng, Văn Thù quán sát thế giới Phật cũng thấy Duy Ma hiện hữu ở đó.

Nói chung, năm loại thế giới phàm phu, hay qua năm chặng đường tu hành, Duy Ma đều không phạm một sai lầm nào, dù là rất nhỏ, thì làm thế nào chỉ trích Duy Ma được. Điều này nhắc chúng ta mỗi khi bắt tay vào việc, phải suy nghĩ rồi hãy hành động.

Văn Thù là hiện thân của trí tuệ chín chắn, suy nghĩ, quán sát tất cả việc làm của Duy Ma không có kẽ hở để phê phán. Nhưng ngài phụng mệnh sự ủy thác của Phật, đến vấn an Duy Ma. Điểm này quan trọng, gợi cho chúng ta nhận thức hai ý. Ý thứ nhất, việc khó, nhưng Phật ra lịnh, chúng ta không từ chối. Nghĩa là nương Phật huệ mà hiện hữu trên cuộc đời, sẽ không cảm thấy sợ, vì Phật phải có trách nhiệm bảo hộ. Ý thứ hai cao hơn, Phật mang ý nghĩa sáng suốt. Đứng ở lập trường sáng suốt giác ngộ hay nương vào trí tuệ đến với đời, thì hiện hữu bất cứ nơi nào tùy nghi giải quyết, đều thành công.

Đứng ở lập trường Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát như mười bốn vị đệ tử tiêu biểu không dám đến thăm Duy Ma. Nghĩa là từ khước xuất hiện trên cuộc đời, để nói lên vấn đề tu hành sống với công thức sẽ thất bại, vì lịch sử không bao giờ tái diễn giống nhau. Vì vậy, nương tuệ giác của Phật đi vào đời, tuy gặp nhiều khó khăn hay tám mươi bốn ngàn phiền não trần lao, hành giả dùng tuệ giác rọi vô từng phiền não trần lao, biết rõ nó và vận dụng được, nên không sợ.

Bồ tát vào đời giáo hóa chúng sanh giải quyết mọi gút mắc, phải luôn luôn trang bị tuệ giác. Rời tuệ giác, mà tu Bồ tát đạo sẽ trở thành Bồ tát có trước có phược, vì bị ràng buộc đủ cách, khó vượt khỏi lưới ma. Vì công thức có sẵn, ai cũng biết thì ma dư biết, thừa sức để phá. Bồ tát phải biết rõ những gì mà người không biết, mới hành đạo bình ổn ở Ta bà.

Văn Thù tin tưởng sự hiểu biết của ngài kết hợp với sự hiểu biết của Duy Ma, sẽ mang lại lợi ích cho chúng hội đạo tràng trên bước đường tu. Ngài không khởi tâm hơn thua đến để thắng Duy Ma hay Duy Ma sẽ thắng ngài. Không ai thắng ai trong sự phô diễn đối đáp này.

Sự thật Văn Thù và Duy Ma tiêu biểu cho hai mẫu người đã đạt tới bản tâm thanh tịnh và trí tuệ tuyệt luân, khỏi cần phải nói. Nói thì bất giác vô minh nổi lên, ý thức bắt đầu sanh ra, sẽ rớt qua sanh tử, thì không còn đúng nữa.

Văn Thù gặp Duy Ma trên chân lý. Đáng lẽ không còn gì để nói, phải kết thúc bộ kinh Duy Ma ở đây. Nhưng thực tế khi Văn Thù nhận lời thăm bệnh Duy Ma, tám ngàn Bồ tát, năm trăm Thanh văn, trăm ngàn thiên nhơn liền đi theo. Họ nghĩ rằng hai Bồ tát thượng thủ sắp gặp nhau, chắc chắn vấn đề chân lý sẽ diễn ra.

Vì những người đi theo mà Văn Thù phải nói. Vì vậy, từ phẩm 6 trở đi, tôi xác định Văn Thù không thật nói cho Duy Ma. Ngài thật nói cho hàng Thanh văn, Bồ tát, trời người đi theo nghe. Cũng có nghĩa là Văn Thù và Duy Ma đối đáp tạo thành cảnh, giúp cho đại chúng hiểu về Đức Phật, nhận thức về chân lý của Ngài.

Văn Thù là bậc đại trí, nhưng chúng ta đọc từ đây về sau, hầu hết Văn Thù hỏi và Duy Ma trả lời. Lúc nhỏ, tôi thắc mắc Văn Thù thăm Duy Ma.Văn Thù hỏi và Duy Ma trả lời thông suốt thì Duy Ma còn cần gì Văn Thù nữa.

Văn Thù mà phải hỏi Duy Ma và Duy Ma lại trả lời trôi chảy cho Văn Thù làm tôi cảm thấy hơi buồn, vì nghĩ rằng giới xuất gia thua người tại gia. Tuy nhiên lớn lên, hiểu lý kinh, tôi thấy thương cả Văn Thù và Duy Ma. Hai ngài là biểu tượng cho chúng ta quan sát. Không có hai ngài, chúng ta mãi đi theo lối mòn cũ. Phật giáo phát triển cũng nhờ sự tồn tại của chân đế và tục đế để chúng ta quan sát và phát triển tư duy.

Tôi suy nghĩ thấy Văn Thù hỏi, Duy Ma trả lời mới thật hay và đúng nghĩa. Thật vậy, đạo Bồ tát lấy hạnh làm chính, nghĩa là chúng ta phải hiểu pháp qua hành động. Nếu chỉ hiểu ở mặt suy lý thuộc về triết lý suông, không lợi ích gì.

Hiểu cuộc đời qua hành động, tiêu biểu bằng nhân vật Duy Ma là con người sống thật. Còn Văn Thù là trí chỉ gợi lên phương hướng. Nương theo trí mà hành động, chúng ta mới hiểu thật. Vì vậy, Văn Thù đến gợi ý và Duy Ma tự trả lời. Hay giáo pháp mà Phật đưa cho chúng ta là trí. Nương theo giáo lý để vận dụng vào cuộc sống là chúng ta tự trả lời. Không ai trả lời thế.

Giáo lý chung, nhưng mọi người tùy theo sự thực tiễn tu hành mà có cách trả lời khác nhau. Ở đây mượn Duy Ma trả lời cho phù hợp giáo lý. Hay có thể hiểu Phật là Đạo sư, còn đến Bảo sở hay không là tùy ở ta ứng dụng giáo lý đúng hay sai. Vì vậy, đệ tử Phật bình đẳng trên chân lý, trong khi thực tế lại khác, có người đắc La hán, có người ở Niết bàn, có người tăng thượng mạn.

Văn Thù thăm Duy Ma, đặt vấn đề cho Duy Ma giải thích. Duy Ma là người sống thật, ông phải trả lời phương cách tiếp thu, vận dụng và sống với giáo lý như thế nào. Văn Thù không nói thay Duy Ma được. Để Văn Thù gợi ý, Duy Ma trả lời, nhằm mục đích lý giải cho Tỳ kheo, Bồ tát, chư Thiên hiểu được. Còn hai vị này đứng trên lập trường giải thoát của Bồ tát để tạo điều kiện cho mọi người ý thức về chân lý hay hướng về chân lý, nói lên chân lý của Phật Thích Ca chỉ tìm thấy được ngay trên cuộc đời này.

Duy Ma tiêu biểu cho Tịnh tâm, nên Văn Thù chưa đến mà ông đã cảm nhận được. Ông dọn tất cả đồ dạc trong phòng, dời mọi người đi, chỉ còn lại phòng trống không. Duy Ma đang bệnh mà dọn phòng trống được. Nếu hiểu đơn giản theo văn kinh như vậy, thì thật thà quá. Phần lớn kinh Đại thừa đưa ra câu chuyện gì đều hàm chứa ẩn ý bên trong. Chúng ta cần suy nghĩ sâu xa hơn.

Theo tôi, nếu có ông già bệnh cần dọn phòng trống, chờ Văn Thù đến, tôi có cảm giác ông già này không bệnh chút nào. Nếu nói bệnh, đây là thị hiện bệnh tức đóng kịch, giả bệnh, không phải thật. Đối với người thật thà, cần thấy Duy Ma bệnh, nên Duy Ma hiện bệnh. Tuy nhiên, dưới mắt Văn Thù và Như Lai, Duy Ma không hề bệnh. Ngài khỏe lắm, về sau chúng ta sẽ thấy trong phẩm kế, Duy Ma khuân tòa sư tử từ thế giới Tu Di Tướng đem về phòng ngài được.

Duy Ma muốn bệnh là bệnh. Vấn đề này trong cuộc sống tu hành của tôi cũng có những trường hợp tương tự như vậy. Khi có người mời tôi làm việc gì, tôi thấy không nên làm, không muốn làm, nên tôi cáo bệnh. Nói bệnh thì mặt tôi tự xanh ra. Bệnh này tự tạo nên, cần bệnh thì bệnh. Từ điểm này, tôi hiểu thêm vấn đề thị hiện của Bồ tat Quan Âm. Ngài đóng đến ba mươi hai vai trên cuộc đời, hành đạo hoàn toàn tự tại.

Khi Phật tại thế có chín mươi hai thứ đạo tranh chấp, nhân tâm ly tán. Đó là bệnh của con người, bệnh của xã hội. Đức Phật tiêu biểu cho vị đại lương y, biết rõ căn bệnh trầm trọng của mọi người. Ngài chỉ cho họ thấy sự sai lầm dẫn đến đau khổ và đưa ra con đường giải thoát. Người có nhân duyên nghe theo tu hành, đều hết bệnh. Riêng chúng ta ngày nay, trên bước đường tu, nhận được sự hộ niệm của Phật mà kinh diễn tả là Duy Ma được Văn Thù đến thăm tự nhiên hết bệnh.

Cuộc đời tu của tôi có nhiều lúc bệnh tưởng không qua khỏi. Nhưng đột nhiên, thoạt nhận được lực vô hình gia bị, tôi cảm thấy mạnh từ thể xác đến tinh thần một cách kỳ diệu. Kết quả này giúp tôi thấu hiểu hơn về ý nghĩa Phật là đại lương y hộ niệm chữa bệnh cho chúng ta.

Tuy nhiên, nếu vấn đề này hiểu theo quan niệm thông thường là nhờ ý chí chúng ta cao, nên quên bệnh quên khổ. Theo tôi, không phải chỉ có ý chí một chiều. Ý chí cao chưa đủ, nếu không có đối tượng để nâng ý chí lên. Cùng tột đau khổ phải có đối tượng để vươn lên, nghĩa là ý chí chúng ta hướng về Phật, sẽ bắt gặp tình thương bao la của Ngài tỏa xuống, tạo thành sự tương giao tăng thêm sức sống cho chúng ta tu hành, vượt được khó khăn.

Khi Văn Thù khởi niệm thăm Duy Ma, phòng Duy Ma thành trống không. Duy Ma làm phòng trống, hay phòng ngài bỗng nhiên trống. Hai vấn đề này chúng ta không hiểu được cái nào đúng, vì không có bản dịch chính chữ Phạn. Tuy nhiên, đó là hai việc quan trọng gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ.

Theo tôi, người nào bước vào thế giới tâm linh tu hành, dễ cảm nhận vấn đề này hơn. Thật vậy, có những việc thành tựu, cho rằng nhờ chúng ta làm, thì không đúng; nhưng nói tự nhiên chứng, cũng không đúng. Thí dụ như có người suốt cuộc đời cố gắng diệt phiền não; nhưng càng nỗ lực tu, phiền não càng phát triển, công phu tu quả là mờ mịt. Bỗng nhiên một hôm, nhìn thấy hoa rơi hoát nhiên đại ngộ. Nếu nhớ nghĩ lại sự gia công tu của mình trước kia, thực quá vô lý.

Thiền triệt để khai thác "Cái bỗng nhiên được” hay hoát nhiên đại ngộ, mà kinh diễn tả là tự nhiên phòng trống. Đối với tôi, vấn đề này được hiểu dưới dạng hoàn toàn khác. Duy Ma không làm phòng trống được, cũng không phải tự nhiên phòng trống. Cần nhớ rằng căn bản Phật dạy là mọi việc trên cuộc đời không nằm ngoài lý nhân duyên. Thấy rõ nhân duyên là thấy pháp. Không phải tự nhiên cũng không phải gia công. Nhưng bỏ gia công, cái tự nhiên cũng không có. Quan trọng ở điểm nhân duyên.

Nhân duyên hội ngộ là trí Văn Thù gặp bản tâm thanh tịnh của Duy Ma, thì phiền não trần lao đột nhiên rơi rụng, diễn tả bằng hình ảnh phòng Duy Ma trống trơn. Ngoài ra, nhà Duy Ma trống rỗng, không có vật gì, cũng có thể lý giải rằng theo Văn Thù có năm loại thế giới, thì Duy Ma an trụ thế giới tâm của Bồ tát vô sở đắc; vì Duy Ma là tâm. Khi để tâm nghĩ đến vat thì nó tồn tại, có đủ; nhưng nhiếp tâm loại bỏ, tất cả sẽ trở thành Không hoàn toàn. Một Thiền sư diễn tả thế giới này bằng câu:

"Có thời có tự mảy lông.

Không thì cả thế gian này đều không”.

Đối với người ham ưa năm món dục, Duy Ma hiện làm người giàu có, thông minh, đức hạnh để làm biểu tượng cho họ phấn đấu phát triển. Nhưng khi muốn phá bỏ tâm sở đắc của Bồ tát, Duy Ma phải hiện Không.

Duy Ma mở đầu với Văn Thù bằng câu: "Văn Thù Sư Lợi mới đến. Tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy”. Nghĩa là đến dưới dạng Bát Nhã, thấy dưới dạng Bát Nhã. Không đến và không thấy dưới dạng căn trần thức. Khi tam đạt đến trạng thái Không của Bát Nhã, quán sát được chân tánh không có sai biệt, thì Phật và chúng sanh đồng một thể:

"Từ chơn tánh chúng sanh là một

Suốt Tam thừa chư Phật chẳng hai

Ấy từ bổn nguyện nguyên khai

Huyền Không về tại lòng người lắng an”

Thật vậy, Văn Thù là tuệ giác. Ngài không phải là vật hữu hình, nên không thể thấy Văn Thù bằng tướng đến. Tuệ giác chúng ta đột nhiên sanh, chúng ta không thấy nó từ đâu đến, nhưng có nó. Đó là trạng thái tu chứng, hay trí tuệ phát sanh. Kinh cụ thể bằng hành động Văn Thù đến thăm Duy Ma. Tuy nhiên, sợ chúng ta lầm Văn Thù và Duy Ma là con người thật đến thăm nhau, nên nhắc chúng ta không có tướng đến mà đến.

Văn Thù và Duy Ma thăm nhau để diễn tả bản tâm thanh tịnh và tuệ giác vô thượng nhập lại, hình thành một Đức Phật đắc đạo trên cuộc đời. Giữa tâm thanh tịnh và trí sáng suốt gặp nhau bất tức bất ly, vì trí không phải là tâm, nhưng trí cũng không rời tâm mà có. Vì vậy, nói tướng không đến mà đến.

Trên bước đường tu, Duy Ma nhắc chúng ta đừng suy nghĩ kỹ, sẽ tìm trí không được. Suy nghĩ nhiều chỉ đưa ta đến vọng thức, vì sự suy nghĩ phát hiện của chúng ta không có đối tượng. Nó phát xuất từ A lại da thức, khiến chúng ta rơi vô ảo giác.

Tâm thanh tịnh và trí sáng suốt, cả hai không có đến và đi, được ngài Trí Giả ví như trăng thật không chìm dưới đáy nước và nước cũng không lên trăng. Cảm ứng đạo giao giữa ta và Phật, hay tâm chơn như bừng sáng, trí tuệ phát sanh, ví như mặt nước phẳng lặng thì bóng trăng hiện vào.

Đến đây kinh Duy Ma mở ra cho chúng ta ý niệm về Đức Phật siêu hình. Ngài hoàn toàn siêu hình, nhưng không rời thực tế. Vì Ngài đã thể hiện trọn vẹn bằng việc làm lợi lạc cho chúng hữu tình trong tám mươi năm trụ thế.

Ngoài ra, nói "Có đến, có đi”, thì khi nói thời gian trôi qua, ý nghĩa theo đó cũng không còn. Vì thế, tướng đến và đi không tồn tại. Những điều chúng ta suy nghĩ tiếp tục trôi như dòng thác về quá khứ, không tồn tại. Tuy nhiên, trên thực tế, Duy Ma và Văn Thù vẫn hiện hữu. Các ngài tồn tại trong cái không tồn tại. Do đó, không có gặp mà thật là gặp, vì tất cả pháp đều tồn tại trong nhân duyên sanh diệt. Văn Thù và Duy Ma đều sống trong lẽ sống này, nên các ngài hiểu rõ.

Chúng sanh tuy cũng đang hiện hữu trong thật pháp như vậy, nhưng vì chấp vào ngôn từ, vướng mắc trong vọng tưởng điên đảo, nên không hiểu được chân thật của cuộc sống. Cái tồn tại đáng sống thì chúng ta đánh mất. Vì thế, chúng ta tưởng tượng để sống thì quá vô lý. Và hàng Thanh văn an trú pháp Không suông, lại càng vô lý hơn.

Trong kinh Kim Cang, Phật dạy: "Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Ý này được Duy Ma diễn tả với Văn Thù trên lập trường Bát Nhã rằng Như Lai hiện hữu, tồn tại trong cái không tồn tại. Cũng vậy, Duy Ma và Văn Thù hiện hữu miên viễn, tồn tại trong thực hữu gọi là Chơn không Diệu hữu.

Đối với các pháp, Bồ tát thấy Không, tức thấy nó không thật có. Bồ tát Thanh Lương Nguyệt thường dạo chơi trong "cái Không”, hay nói khác, ngài làm mọi việc, mà chẳng hề bị dính mắc chút nào, vì nó giống như trò chơi, không có thật. Sự hành đạo nhẹ nhàng, thanh thản của Bồ tát khiến cho người được thanh thản, nên thường ví lực của Bồ tát như ánh sáng mát dịu của mặt trăng

Pháp Không của Bồ tát, "Không tướng gặp mà gặp, không tướng đến mà đến”, mở ra thế giới vô hình cho chúng ta suy gẫm.

Về phần vật chất có đến và đi. Nhưng trên thực tế cuộc đời có nhiều người không đến, chúng ta vẫn cảm thấy như họ ở bên cạnh đối thoại với chúng ta. Trái lại, có người kề cận, chúng ta vẫn không thấy sự hiện hữu của họ. Nói cách khác, hành động và suy tư giống nhau thì không gần cũng thân thiện.

Thật vậy, khi hành giả lắng yên tâm hồn, hình dung công hạnh của Bồ tát, đức độ của Như Lai và sống với hạnh đức ấy là hành giả đang gặp gỡ các Ngài trong tâm linh. Đặc biệt Diệu hữu của Chơn không là "Chúng sanh tâm cấu tịnh, Bồ tát ảnh hiện trung”. Nghĩa là tâm chúng sanh thanh tịnh hay nhiễm ô đều có Bồ tát hiện hữu, tuy không thấy được nhưng là thật hữu. Trí tuệ của Đức Phật cho đến ngày nay vẫn là kim chỉ nam soi đường cho chúng ta qua hơn hai ngàn năm cũng chính là nằm trong lý này, lý "Không có mà có”.

Chúng sanh thường quan niệm phải có dưới hình thức này hay hình thức kia, nhưng họ vẫn thất bại khổ đau đời đời. Trong khi Bồ tát thấy được chân thật tướng các pháp, nên lúc nào cũng thấy chính xác, thấy như thật, dẫn đến làm cũng đúng như thật là Như Lai. Như Lai nghĩa là như như bất động. Bản chất tồn tại thật hữu này không thay đổi. Bước sang tinh thần Pháp Hoa gọi là thế gian tướng thường trụ, nghĩa là bao giờ còn con người, thì đạo Phật còn ở thế gian. Pháp đó ảnh hiện vào thế gian tướng để thành một vị Phật trên cuộc đời.

Trước khi Văn Thù đến thăm Duy Ma, nhà Duy Ma có đủ thứ. Điều này tiêu biểu cho sự sinh hoạt của chúng ta trên cuộc đời. Với sáu căn tiếp xúc sáu trần sanh ra biết bao mê lầm chấp trước. Nhưng đến khi Văn Thù bằng lòng tới thăm Duy Ma, nhà Duy Ma hoàn toàn trống không. Nghĩa là tia sáng từ tâm ta bừng lên hoát nhiên đại ngộ. Trong lòng tự sáng ra, mà Phật thường ví như mặt trời mọc bóng tối tự tan. Và Thiền sư Việt Nam diễn tả ý này bằng câu: "Tâm địa nhược không huệ nhật tự chiếu”.

Điểm này chịu ảnh hưởng của kinh Duy Ma. Sự gặp gỡ giữa Văn Thù và Duy Ma nói lên yếu chỉ của Thiền, ánh sáng trí tuệ bừng lên, bóng tối vô minh liền tan biến.

Nhà trống không và không có người tiêu biểu cho ánh sáng trí tuệ rọi vào tâm, nghiệp và phiền não liền dứt sạch. Bấy giờ, tâm Duy Ma trống là tâm chấp trước không còn. Bản tâm hoàn toàn thanh tịnh thì ngã và ngã sở làm gì có. Nếu có nhà cửa, đồ vật và người thân là vì có nghiệp. Nhìn dưới dạng bản tâm thanh tịnh, thì những sự liên hệ này tuyệt nhiên không còn. Điều này dễ cảm nhận đối với người tu. Có những phút giây, tâm chúng ta hướng về Phật một cách mãnh liệt, mọi trần duyên tự dứt. Niềm tin và độ cảm của hành giả nghĩ về Phật quá cao, nên nhận được Phật huệ rọi xuống, hay ánh sáng Văn Thù chiếu đến. Hành giả tiếp nhận trí Văn Thù và thể hiện trí ấy trong công việc. Sự nghiệp, quyền lợi, hay ngoại cảnh không còn dính líu gì đến hành giả. Hay đó là căn phòng trống không. Ý nghĩa Không này không thể hiểu theo nghĩa thông thường là có hay không trong tương đối pháp. Cũng không phải Không trong tuyệt đối pháp.

Tại sao Không? Vì tự nhiên Không vậy. Trên thực tế tu hành, ta đạt được sự giải thoát, thì tự nhien đạt đến trạng thái Không. Hành giả không phải cắt đưt một cái gì để được Không. Vì nếu "còn cắt để được”, hành giả còn ở trong vòng đối đãi của pháp tương đối.

Trên thực tế nhà Duy Ma có trống không hay không là công việc của nhà khảo cứu lịch sử. Triết lý Không ở đây nhằm chỉ cho bản tâm thanh tịnh. Nhờ ánh sáng Văn Thù rọi vào tâm hay gặp minh sư, phiền não nhiễm ô tự mất. Lúc ấy, nhà cửa đất đai sự nghiệp chỉ là những gì ràng buộc hành giả trên cuộc đời. Vì vậy, hành giả không còn có ý niệm chấp trước, nhưng phước lạc vẫn thường nhiên.

Duy Ma buông tất cả, nhưng không mất mát gì. Duy Ma vẫn là Duy Ma. Lòng ham muốn không còn, mà sự vật vẫn tồn tại, vẫn an vui hạnh phúc.

Trí Giả ví ngũ ấm như ngôi nhà. Nhà ngũ ấm bao che chúng ta suốt ngàn năm làm chúng ta mờ mịt trong sanh tử. Cuộc sống chúng ta luẩn quẩn trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó giam hãm chúng ta với sự nhận thức không bao giờ rời nổi đối tượng chung quanh. Nhà Duy Ma ở là ngôi nhà ngũ uẩn đó. Nhưng Văn Thù đến thăm, hay trí tuệ bừng lên, nhà tối ngàn năm tự sáng. Ngài nhìn thấy rõ tất cả hiện tượng trong trời đất nói chung, trong ngũ ấm nói riêng.

Tâm Duy Ma thanh tịnh tiếp nhận trí Văn Thù rọi đến, nhà Duy Ma đột nhiên biến thành Không, thọ tưởng hành thức không còn tác dụng ngài. Tâm Duy Ma bấy giờ đang tiếp cận chân lý bắt gặp trí Văn Thù. Tâm và trí kết hợp với nhau, tạo thành nhà ngũ uẩn của Duy Ma trống không, tức ý thức trần gian hoàn toàn buông bỏ.

Duy Ma nhờ tuệ giác Văn Thù rọi xuống, ngũ uẩn tan mất, phiền não trần lao không còn. Và biến ngũ uẩn hữu lậu của Duy Ma thành ngũ uẩn vô lậu, hay năm phần Pháp thân là giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Năm phần Pháp thân ấy làm lợi ích cho chúng hữu tình. Giải thoát mà không lợi ích cho đời không phải là giải thoát theo Phật.

Đứng trên lập trường trí Văn Thù, hay Bát Nhã Ba la mật mà nhìn trở lại thân ngũ uẩn, thấy ngũ uẩn giai Không. Nghĩa là ngũ uẩn tan mất, không còn. Ngũ uẩn là bóng tối, nhưng mặt trời huệ rọi đến, bóng tối tự mất; mặt trời lặn bóng tối hiện ra. Chúng ta thấy có mất, có hiện; nhưng cả hai bóng tối và ánh sáng ở dạng thể không có mất và hiện. Ánh sáng và bóng tối đồng một thể.

Vì vậy, thân ngũ uẩn giống nhau, nhưng tùy theo cách sử dụng mà sanh ra lợi hay hại. Người có trí tuệ sử dụng Bát Nhã, hay được tuệ giác Phật soi rọi, nhận được ngũ uẩn là Không, thấy cái thực, cái không thực. Từ đó, tâm không còn tham vọng, khổ ách cũng tiêu tan. Ngược lại, sử dụng vô minh thì ngũ uẩn sẽ ràng buộc chúng ta không cùng.

Kinh Bát Nhã dạy "Hành thâm Bát Nhã Ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Ý này được kinh Duy Ma diễn tả đơn giản là Văn Thù đến, nhà Duy Ma thành trống không. Tâm người ngộ phải đạt đến trạng thái Không này thì sự vật trên cuộc đời diễn tiến khác lạ. Những điều hành giả tưởng khó giải quyết, lại được tự động giải quyết tốt đẹp ngoài sức mình. Đó là Bát Nhã giải quyết, là ý nghĩa của sự hiện thân của Văn Thù trên cuộc đời.

Trở lại lịch sử của Đức Phật để chúng ta hiểu thêm về ý nghĩa của Không, hay tinh thần mặt trời mọc bóng tối tự tan. Khi chưa thành Phật, trí tuệ chưa rọi tới, tâm địa chưa hoàn toàn không, Ngài chỉ là Sa môn Cù Đàm. Nhưng sau đêm mùng tám tháng chạp, Ngài thành Phật, trí tuệ bừng sáng. Ở đây diễn tả bằng hành động Văn Thù đến thăm Duy Ma, tiêu biểu cho tâm trí kết hợp với nhau mới thành Phật. Đức Phật là người kết hợp khéo léo con tim và khối óc. Tim và óc được thể hiện bằng hình ảnh Văn Thù và Duy Ma.

Duy Ma và Văn Thù còn có nghĩa là sự kết hợp giữa chân đế và tục đế. Chân đế gồm những người tu hạnh viễn ly, xa rời trần cấu, không tiếp xúc với cuộc đời để tâm hồn thanh tịnh. Tục đế thuộc về người thế tục. Duy Ma và Văn Thù kết hợp được chân đế và tục đế hay gọi là Nhị đế dung thông mới thấy được thật tướng các pháp. Vì đi về trần tục, hành giả xa rời chân đạo. Nhưng chỉ thuần bước trên chân đạo, rời bỏ thực tế, hành giả lạc vào ảo giác. Thông thường tu, hành giả hay lạc vào một trong hai thiên kiến này.

Sự kết hợp giữa Văn Thù và Duy Ma gợi cho hành giả chân lý cuộc sống là con đường Trung đạo của Bồ tát kết hợp giữa thế tục và Thánh đạo, hoặc kết hợp Tăng và tục. Đạo Phật tồn tại trong tư thế tứ chúng đồng tu luôn hỗ tương nhau. Duy Ma thể hiện người kiểu mẫu của hàng tại gia và Văn Thù là kiểu mẫu của xuất gia. Nếu đạo Phật không có những cư sĩ cự phách, thì khó truyền bá rộng rãi được và chỉ đóng khung trong chùa, không lợi ích cho ai. Ngược lại, người tín tâm nhiều, nhưng không được chư Tăng có trí tuệ chỉ đạo, dễ rớt vào mê tín.

Nhờ Văn Thù giải thích, mọi người hiểu được ý nghĩa Như Lai là Pháp thân thường trú, là tồn tại thực hữu của sự vật ở trong cái không tồn tại. Sự thật chúng ta đang hiện hữu, tâm trí chúng ta còn đây; nhưng mỗi niệm trôi qua, tri thức và đạo đức của chúng ta trưởng thành thêm. Sống và an trú trong tri thức và đạo đức thăng hoa này là sự tồn tại miên viễn của chúng ta nằm trên dòng sanh diệt không tồn tại của thế gian pháp.

Văn Thù hỏi Duy Ma tại sao nhà trống không. Duy Ma trả lời cõi nước chư Phật mười phương cũng trống không. Điểm này muốn hiểu được, ta trở lại câu trong kinh Kim Cang: "Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Nếu hành giả là người thế gian có nhận thức của người thế gian, không phải là nhận thức của Phật hay Bồ tát. Nhưng khi thay đổi sự nhận thức của người thường thành nhận thức của Phật, Bồ tát, hay nói khác, hành giả phải nâng tri thức mình lên, sẽ thấy khác.

Trước kia là người nhìn đời với đôi mắt khát vọng, thấy gì cũng ham mê, lòng không bao giờ thỏa mãn, nên dễ rớt qua bất mãn. Cái Không của một con người tuyệt vọng ôm cả một khối ham muốn, nhưng thực tế không nắm bắt được gì, đành buông xuôi tay. Đó là Không của thế gian. Đối với họ, "Tôi không muốn gì, nghĩa là tôi không được gì”. Tâm hồn tràn đầy tham vọng, nhưng không có gì.

Chúng ta tu hành, dứt khoát bỏ cái Không nay và bỏ cái Không mà kinh Pháp Hoa gọi là "Bần cùng không phước huệ”. Nhiều người hiểu lầm nghĩa Không, cho rằng xuất gia không có gì, trở thành người ăn xin là sai. Phật và đệ tử Thánh chúng không phải là người ăn xin.

Nếu chúng ta tu để giữ cái Không sai lam này, thà nên giữ cái Có của thế gian còn tốt hơn. Vì từ "Có của thế gian” để chúng ta đổi thành "Có của xuất thế gian”, hay chuyển phước hữu lậu thành vô tận Thánh tài theo Phật dạy.

Khi hành giả biết sống với tri thức, thì tham vọng sẽ theo đó giảm lần và say mê học đạo. Nhờ đó, tham vọng vật chất tự tiêu mòn theo sự phát triển tri thức của hành giả. Cách nhìn đời của hành giả cũng đổi khác hơn khi không còn tham vọng. Hành giả nhìn sáng lần, thấy gần đúng với sự thật và quay trở lại quán sát sẽ thấy những cái vô lý trước của ta. Và nâng cấp lên thấy Không theo La hán. Lúc ấy, ở trạng thái sơ tâm hay đạt giải thoát một, tức hành giả có nghe, nhưng không quan tâm. Cho nên, pháp trần không tác động, được giải thoát, không còn gì vướng mắc trong lòng.

Trên bước đường tu, hành giả bỏ tất cả quyền lợi để xem vấn đề có tồn đọng trong lòng không. Điển hình như Ca Diếp là người giàu nhất Ma Kiệt Đà. Theo Phật, ông bỏ toàn bộ sự nghiệp để thanh lọc thân tâm, khi ngủ đường khi ngủ dưới gốc cây trong rừng. Tất cả những sự mâu thuẫn với quyền lợi trước kia được dùng để trắc nghiệm, thử xem tâm có còn ham muốn những thứ này hay không.

Tam muội đầu tiên chứng được là Không, không bị trần cảnh làm dao động, hành giả từng bước phát triển thế giới Không, thấy Không của Tu đà hoàn khác với Không của A la hán. Ở trong cái Không của Tu đà hoàn, vật không tác động hành giả, nhưng chưa phải hoàn toàn thoát ra khỏi sự chi phối của trần cảnh. Hành giả phải vượt qua bốn bức tường sắt hay bốn thế giới Thiền định mới đạt tới thế giới Không của A la hán. Cuộc đời hoàn toàn không còn tác dụng, giống như Thánh Đề Bà quán pháp Không thuần thục đến độ tên Bà la môn đâm ngài chết mà ngài vẫn thản nhiên mở y đưa cho hắn mặc, để đi trốn.

Chúng sanh thấy Có, Thanh văn thấy Không. Duy Ma và Văn Thù dung hợp giữa Có và Không này. Điều quan trọng của đạo Phật là hành giả phải biết, phải thấy ta và thế giới của ta. Tuy không bị vật tác động, nhưng hành giả phải biết rõ các pháp. Nếu không, chúng ta trở thành người vô tri hay sao.

Cái thấy theo Phật là cái thấy của Duy Ma khi được trí Văn Thù rọi vào, tức tâm người cầu đạo bừng sáng, thấy sự vật đúng như thật. Bồ tát theo Phật tu nhằm đạt đến Phật nhãn. Tuy tất cả là Không đối với Bồ tát, nhưng vẫn hiện hữu đầy phước lạc ở thế gian. Nếu nói Không là không có, thì hoàn toàn sai. Nhưng trở về bản tâm thanh tịnh, thì tất cả vẫn là Không.

Giai đoạn một, Không của La hán là Không suông. Giai đoạn hai, Tam muội Không của Bồ tát phải giải quyết khổ đau cho chúng sanh. Giải bệnh cho chúng sanh xong, Bồ tát cũng hết bệnh. Ví như trưởng giả có một người con. Vì con bệnh, nên ông bệnh. Và giai đoạn ba, Tam muội Không của Như Lai là không có gì trên đời có thể tác động Như Lai. Tuy nhiên, Ngài vẫn thấy biết mọi sự diễn biến của cuộc đời và điều động nó một cách tự tại. Từ đó mới khởi tâm đại bi sanh lại nhân gian.

Vì vậy, Duy Ma bác bỏ quan niệm cho rằng Phật có đầy đủ sức khỏe và trí thông minh để tạo sự nghiệp, mà Ngài từ bỏ cuộc sống đế vương để đi xin ăn. Nếu tu tất cánh Không bằng cách như vậy, ta không nên theo, vì chẳng lợi ích gì. Không là không chấp trước phiền não. Đạt đến trạng thái tu chứng này, mười phương thế giới Phật đều Không.

Theo Duy Ma, tâm đạt đến trạng thái tịnh thì thế giới của ngài phải tịnh. Tịnh ở đây là Không. Kinh Đại thừa thường diễn tả thế giới mười phương đều do công đức mà hình thành, mà hiện hữu. Vì nhờ có công đức, mới hiện hữu thế giới, nên thế giới này không thực. Công đức mất, thì thế giới mất.

Còn thế giới của chúng ta như thế nào là tùy theo nghiệp. Thiện nghiệp có, người sẽ mang hạnh phúc đến cho ta. Thiện nghiệp hết, người sẽ mang hạnh phúc ra đi. Như vậy trần gian tốt hay xấu đến với ta là tùy nghiệp. Và thế giới của mười phương Phật là tùy công đức và nguyện lực của các Ngài mà hiện. Nghĩa là vì lý do nào đó mà hiện có hay biến mất.

Vì thế, dưới mắt Duy Ma thấy trống không, trước có, liền mất, nên về thời gian thấy Không. Ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai là cái gì không nắm bắt được. Về không gian, mọi vật do nhân duyên mà thành, nhân duyên tan mọi vật tự mất. Con người chúng ta xuất hiện do tổng hợp nhân duyên. Vì vậy, có rồi không, không rồi có. Những người hôm qua không có mặt, mà hôm nay nghe tiếng họ khóc chào đời.

Đối vơi Duy Ma, trần gian là Không, thế giới chư Phật mười phương cũng Không. Cái Không này được Huệ Năng diễn tả là "Bản lai vô nhất vật”. Trên thể tánh, tất cả đều an trụ pháp Không, không có một sở hữu nào.

Nhưng một Thiền sư khác ngộ cái "Vô nhất vật” của Huệ Năng, lại thấy rằng "Vô nhất vật trung vô tận tạng”. Tuy không có vật nào, nhưng kho tàng quý báu của Huệ Năng để lại dùng đến ngàn năm cũng không hết. Không phải một người hưởng, mà cả Thiền tông Đông độ đều nương vào đó mà thăng hoa.

"Vô nhất vật” của Huệ Năng trở thành "Vô tận tạng”. Hay nói cách khác "Vô tận tạng” chính là pháp Không của Phật chứng. Phật tu, bỏ tất cả, nhưng đến nay hơn hai mươi lăm thế kỷ, mọi người vẫn tự nhận là đệ tử Ng