cool hit counter

 

 

I. LƯỢC VĂN KINH

Xá Lợi Phất thấy trong nhà Duy Ma Cật không có đồ đạc, mới nghĩ rằng các Bồ tát và Thanh văn sẽ ngồi nơi đâu.

Trưởng giả Duy Ma Cật biết được ý đó, liền nói với Xá Lợi Phất rằng: "Ngài vì pháp mà đến, hay vì chỗ ngồi mà đến”.

Xá Lợi Phất trả lời: "Tôi vì pháp mà đến, không phải vì chỗ ngồi”.

Duy Ma Cật nói: "Xá Lợi Phất, người cầu pháp, thân mạng còn không tiếc, huống chi là chỗ ngồi. Hễ là người cầu pháp thì chẳng cầu sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chẳng cầu giới, nhập. Chẳng chấp trước cầu Phật, Pháp, Tăng, v.v…

"Xá Lợi Phất, pháp là tịch diệt. Nếu thực hành pháp sanh diệt là cầu sanh diệt, không phải cầu pháp. Pháp là không nhiễm. Nếu nhiễm pháp, cho đến Niết bàn, đó là nhiễm đắm, không phải cầu pháp. Pháp không có tướng. Nếu nhân tướng mà biết, đó là cầu tướng, không phải cầu pháp. Pháp không thể trụ. Nếu trụ pháp là không phải cầu pháp. Pháp không thể thấy nghe, hay biết. Nếu làm theo thấy nghe hay biết là không phải cầu pháp. Pháp là vô vi. Nếu làm hữu vi là không phải cầu pháp, v.v…”.

Khi Duy Ma Cật nói lời ấy, năm trăm Thiên tử được pháp nhãn thanh tịnh.

Trưởng giả Duy Ma Cật hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng ngài dạo đi trong vô lượng nghìn muôn ức a tăng kỳ quốc độ, thấy cõi Phật nào có những tòa sư tử tốt đẹp, thượng diệu do công đức tạo thành.

Văn Thù Sư Lợi trả lời rằng về phương Đông, cách đây ba mươi sáu hằng sa cõi Phật có thế giới tên Tu Di Tướng, Phật hiệu Tu Di Đăng Vương, thân cao tám mươi bốn ngàn do tuần, tòa sư tử cũng cao như thế, trang nghiêm tốt đẹp bậc nhất.

Lúc ấy, Duy Ma Cật hiện sức thần thông, tức thời Đức Phật ở cõi nước kia điều khiển ba mươi hai ngàn tòa sư tử cao rộng đến nhà Duy Ma Cật. Các Bồ tát, Thanh văn, Đế Thích, Phạm vương, Tứ Thiên vương đều thấy việc chưa từng có.

Nhà Duy Ma rộng rãi trùm chứa cả ba mươi hai ngàn tòa sư tử, không chướng ngại, mà ở thành Tỳ Da Ly cho đến cõi Diêm Phù Đề cũng không bị chật đi.

Duy Ma mời Văn Thù Sư Lợi và các Bồ tát ngồi tòa sư tử, tức thì các Bồ tát có thần thông liền biến hiện thân hình cao bốn mươi hai ngàn do tuần đến ngồi tòa sư tử. Bồ tát mới phát tâm và hàng đại chúng đều không lên được.

Lúc đó, Duy Ma Cật mời Xá Lợi Phất lên tòa sư tử ngồi. Xá Lợi Phất trả lời ông không lên ngồi được vì tòa này cao quá. Duy Ma Cật bảo Xá Lợi Phất đảnh lễ Tu Di Đăng Vương Như Lai mới có thể ngồi được. Khi ấy, các vị Bồ tát mới phát tâm và hàng Thanh văn đều đảnh lễ Đức Tu Di Đăng Vương Như Lai rồi ngồi được ngay tòa sư tử.

Ngài Xá Lợi Phất nói: "Thưa cư sĩ, thực chưa từng có. Cái nhà nhỏ bé này dung chứa được các tòa cao rộng như thế, mà thành Tỳ Da Ly không bị ngăn ngại, các tụ lạc thành ấp cùng những cung điện của chư Thiên, Long vương, quỷ thần ở Diêm Phù Đề cũng không bị ép chật”.

Duy Ma Cật nói: "Thưa ngài Xá Lợi Phất, chư Phật và Bồ tát có pháp giải thoát tên là Bất Khả Tư Nghì. Nếu Bồ tát trụ pháp giải thoát đó, lấy núi Tu Di nhét vào trong hột cải vẫn không thêm bớt. Hình núi Tu Di vẫn y nguyên, mà Trời Tứ Thiên vương và Đao Lợi không hay, không biết đã vào đấy. Chỉ có những người đáng độ mới thấy núi Tu Di vào trong hột cải. Đó là pháp môn "Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát”.

"Lại lấy nước bốn biển lớn cho vào trong lỗ chân lông, không có khuấy động các loài thủy tộc mà các biển lớn kia vẫn y nguyên. Các loài Rồng, Quỷ, Thần, A tu la, v.v… đều không hay, không biết mình đi vào đấy và các loài ấy cũng không có loạn động.

"Lại nữa, thưa ngài Xá Lợi Phất, bao nhiêu thế giới trong mười phương, Bồ tát có thể hút vào trong miệng mà thân không hề tổn hại, những cây cối bên ngoài cũng không xiêu ngã, v.v…

"Lại nữa, thưa ngài Xá Lợi Phất, Bồ tát trụ cảnh Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát hay dùng thần thông hiện làm thân Phật, hoặc hiện thân Bích chi Phật, thân Thanh văn, Đế Thích, Phạm vương, Chuyển luân Thánh vương. Các thứ tiếng ở cõi nước mười phương đều biến thành tiếng Phật nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngã và những pháp của chư Phật mười phương nói ra làm cho khắp tất cả đều được nghe.

"Ngài Xá Lợi Phất, nay tôi chỉ lược nói qua thần lực giải thoát bất khả tư nghì của Bồ tát như thế. Nếu nói cho đủ, đến cùng kiếp cũng không hết được”.

Khi tất cả hàng Thanh văn nghe pháp môn Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát này đều than khóc, tiếng vang động cõi tam thiên đại thiên thế giới. Tất cả Bồ tát thì đều vui mừng vâng lãnh pháp ấy.

Khi đó, ngài Đại Ca Diếp ngợi khen và bảo Xá Lợi Phất rằng: "Ví như có người phô bày các thứ hình sắc cho người mù, họ không thể thấy được. Nay tất cả Thanh văn nghe pháp môn Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát này cũng không thể hiểu được.

"Người trí nghe pháp môn này đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác. Tại sao chúng ta mất hạt giống ấy, đối với pháp Đại thừa này đã như hột giống thúi. Nếu có Bồ tát nào tin hiểu pháp môn Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát này, thời tất cả chúng ma không thể làm gì được”.

Khi ngài Ca Diếp nói như thế, có ba mươi hai ngàn vị Thiên tử phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

Bấy giờ, Duy Ma Cật nói với Đại Ca Diếp: "Thưa ngài Đại Ca Diếp, các vị làm ma vương trong vô lượng vô số cõi nước ở mười phương, phần nhiều là bậc Bồ tát trụ pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát. Vì dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh, nên thị hiện làm ma vương.

"Lại nữa, thưa ngài Đại Ca Diếp, vô lượng Bồ tát ở mười phương, có người đến xin tay chân, đầu mắt, tủy não, vợ con, tôi tớ, xe cộ, vàng bạc, v.v… Người đến xin phần nhiều là bậc Bồ tát trụ pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát dùng phương tiện đến thử thách để làm cho các Bồ tát kia thêm kiên cố.

"Vì Bồ tát trụ pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát có thần lực oai đức, mới dám làm việc khó làm như thế. Còn kẻ phàm phu hạ liệt không thể bức ngặt Bồ tát. Ví như sức mạnh của voi không bị lừa ngựa chà đạp. Đó là trí tuệ phương tiện của Bồ tát ở nơi pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát”.

II. GIẢI THÍCH

Sự hội ngộ giữa Văn Thù và Duy Ma nói lên đỉnh cao nhất trong việc tu hành, hay ngầm chỉ Phật Thích Ca thành đạo dưới cội Bồ đề. Và từ đỉnh cao giác ngộ này, Phật nhớ lại bản nguyện ra đời để cứu khổ chúng sanh. Ngài trở lại cuộc đời chỉ cho mọi người thấy bất khả tư nghì giải thoát mà kinh diễn tả bằng sự gặp gỡ giữa Văn Thù và Duy Ma, hay sự kết hợp giữa bản tâm thanh tịnh và trí tuệ tuyệt luân sanh ra vô số bất tư nghì. Bên ngoài bình thường mọi người đều như nhau, nhưng phần bên trong là tâm trí Phật và tâm trí của chúng ta hoàn toàn khác nhau.

Tâm trí của Phật, đối với ta thì bất tư nghì, nhưng tâm trí của ta thì Phật thấy rõ như thấy quả táo trong lòng bàn tay. Căn tánh hành nghiệp của chúng sanh Ngài biết rõ. Suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp giáo hóa, Phật dùng tất cả phương tiện giúp chúng ta hiểu được cái không hiểu được là bất tư nghì. Bất tư nghì nghĩa là không thể nghĩ bàn, ngoài sức hiểu của con người, đòi hỏi hành giả tu đến một trình độ nào mới hiểu. Đó là trạng thái tu chứng của Bồ tát, sự diệu dụng thần thông của Bồ tát. Ở đây nêu ra một số việc làm tiêu biểu mà Thanh văn và Bồ tát không làm nổi.

Khi Duy Ma và Văn Thù bàn về pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát, tất cả chúng hội đều mờ mịt, không biết vị nào bệnh, vị nào không bệnh. Người bệnh và người không bệnh nói chuyện, hay sự đối đáp giữa Bồ tát thọ ấm thân và Bồ tát không thọ ấm thân hoàn toàn vô hình, tức giữa hai tâm hồn trong sáng gặp nhau, đứng ngoài phần ngũ uẩn luận bàn. Vì thế, người còn sống xoay vần trong sáu giác quan làm sao hiểu được; đối với họ tất nhiên phải thành bất tư nghì.

Sống và làm việc của Bồ tát thực là bất tư nghì, hay nói cách khác, sự tồn tại của đạo Phật làm chúng ta cảm nghĩ Đức Phật có một lực tương xứng như trong kinh ghi. Nếu Phật không có những bất tư nghì này, đạo Phật không thể tồn tại hơn hai mươi lăm thế kỷ. Chúng ta lấy việc thực tế là thành quả giáo hóa của Đức Phật trên cuộc đời trải qua lịch sử dài và không gian rộng, để hiểu rõ lực của Phật trong kinh Duy Ma. Ngược lại, đứng ở lập trường căn trần mà lý luận thì chỉ hiểu giới hạn mà thôi.

Văn Thù và Duy Ma bàn luận với nhau rằng nên khuyên Bồ tát bệnh thế nào để họ vững tâm hành đạo. Và Bồ tát bệnh phải vận dụng pháp gì để chữa bệnh. Đó là sự suy tư và việc làm của Bồ tát. Hàng Thanh văn tham dự pháp hội khó cảm thông được và không hiểu nổi. Ví như người ở trình độ thấp nghe hai nhà bác học nói về sự chuyển biến của vũ trụ, tất nhiên họ không thể nào hiểu được. Cũng vậy, Xá Lợi Phất và chúng Thanh văn cảm thấy việc làm của Duy Ma và Văn Thù không liên quan gì đến các ngài; vì các ngài không bắt gặp cái hay của Bồ tát đến thăm bệnh, mới trở về tâm niệm hạn hẹp của con người, khởi lên ý niệm tám ngàn Bồ tát và năm trăm La hán tập trung về phòng Duy Ma. Số lượng nghe pháp quá đông và hội trường quá nhỏ, làm sao vào được và vào được thì trong phòng không có bàn ghế, chỉ có cái giường của Duy Ma.

Xá Lợi Phất nghĩ như vậy cũng đúng; nhưng đúng với thực tế của con người còn kẹt trong sanh tử, không phải thực của người tu giải thoát. Đến đây, mở màn cho pháp Bất Tư Nghì phô diễn, làm đảo lộn cái thấy bằng nhãn quan thông thường của chúng ta là phòng rộng mới chứa được nhiều người.

Phòng Duy Ma nhỏ nhưng dung nhiếp được số người quá lớn, là chuyện bất tư nghì. Cũng như Thích Ca Như Lai với hai bàn tay không, điều động dễ dàng cả năm ông vua cai trị miền Ngũ Hà ở Ấn Độ và hàng vạn Tỳ kheo, vô số cư sĩ. Điều này đối với chúng ta cũng bất tư nghì. Muốn đạt đến bất tư nghì này, nghĩa là đạt đến cứu cánh Niết bàn hay chơn không hoàn toàn không chướng ngại, Duy Ma dọn phòng trống, không còn gì. Chỉ để một cái giường và một người bệnh, để chúng ta nhận ra xác thân con người và Pháp thân Bồ tát.

Trên lập trường Không, gian phòng trống tiêu biểu cho Bồ tát đáo bỉ ngạn. Tuy nhiên, trong Không đó còn một xác thân, như Hòa thượng Trí Tịnh có dạy:

Hữu lai vấn ngã vi hà tợ

Báo đạo phù thi khổ hải trung.

Trong pháp tu của Bồ tát rộng mênh mông, mang tính chất biến hóa không cùng, thì thân con người chẳng khác nào bọt nước trong biển. Dưới mắt người thường, phòng trống không với một giường, một người bệnh, không có gì quan trọng. Tuy nhiên, khi hành giả lắng yên tâm hồn, mới nhận ra pháp tiềm ẩn ở phía sau những vật tượng trưng. Trong bể sanh diệt có một "Phù thi” là thây chết, hay thân con người nổi lên, mới có vấn đề cho chúng ta nói. Nếu hoàn toàn trống không trên chơn tánh, thì còn gì để mà nói.

Vì vậy, muốn thuyết pháp phải có đối tượng. Ở đây mượn hiện tượng người bệnh, phòng trống để diễn tả sự cao siêu của Phật pháp gọi là bất tư nghì. Kinh Pháp Hoa mô tả ý này bằng câu: "Hoa khai liên hiện, hoa lạc liên thành”.

Xá Lợi Phất khởi niệm phòng nhỏ, chúng đông, làm sao ngồi đủ. Đây là thực tế, ai làm công tác quản lý đều phải suy nghĩ như vậy. Tuy nhiên, dân gian thường nói: "Của vua thua của Phật”. Đọc lịch sử truyền bá Phật giáo, chúng ta không hề thấy các vị danh Tăng quyên góp tiền để xây chùa, cất giảng đường. Các ngài đến ở hang đá hay túp lều, nhưng đức hạnh tỏa ra, chỉ một thời gian sau, có đủ chùa cao Phật lớn. Thấy không có gì, nhưng có đủ là diệu hữu, hay sự thành tựu công đức trang nghiêm, không quan tâm mà tùy thuộc phước đức và trí tuệ tự thành, là cái vô hình bất tư nghì. Những gì mà chúng ta hiểu được còn nằm trong căn trần, do dụng ý thuộc về nghiệp, nhiều khi đưa đến quả báo không tốt.

Thanh văn thấy phòng nhỏ không có chỗ ngồi. Điều này gợi cho chúng ta biết rằng nếu suy nghĩ theo con người phàm phu dễ rớt qua tham vọng; vì túi tham không đáy, rộng bao nhiêu cũng không dung được. Nhưng đối với Bồ tát an trú pháp Không, nhỏ bao nhiêu cũng chứa đủ.

Đứng trên lập trường Phật pháp, không có vấn đề nhỏ lớn nhiều ít. Chỉ ở trên sanh diệt pháp, mới có vấn đề này. Chúng ta cần lưu ý, không khéo chỉ tu hành trên sanh diệt, thì trăm kiếp ngàn đời vẫn ở trong sanh diệt.

Phật ấn chứng cho Xá Lợi Phất quả A la hán, nghĩa là chứng Vô sanh, tại sao còn sanh. Duy Ma chỉnh Xá Lợi Phất tu trên sanh diệt, làm thế nào chứng Vô sanh. Cũng vậy, chúng ta tu hành cân nhắc xem mình thực sự xuất gia hay chưa.

Chỉ có một niệm tâm Vô sanh được Phật ấn chứng; nhưng niệm kế tiếp sanh, liền lạc mất tâm chứng này. Chúng ta còn nhớ trong phẩm trước, Duy Ma chất vấn Di Lặc rằng Phật thọ ký cho ông một đời thành Phật là đời nào. Ở đây cũng vậy, cai hành giả chứng được Vô sanh là Vô sanh nào và cái chúng ta đang sống là gì. Tất nhiên, chúng ta đang sống, đang làm việc là sanh. Tâm lý của chúng ta luôn luôn sanh. Tâm sanh thì pháp sanh. Tâm và pháp phản ánh hỗ tương sanh ra vô số, cho nên thấy pháp sanh phải biết ngay tâm sanh. Nghĩa là chúng ta đã tu trên pháp sanh diệt, mà ngộ nhận không sanh. Sự sai lầm này theo kinh Pháp Hoa là uống lầm thuốc độc.

Ngoài ra, Xá Lợi Phất không thấy chỗ ngồi, còn có thêm ý nghĩa thứ hai mà người Việt Nam thường nói phải biết chỗ mình ngồi, ngồi cho đúng chỗ. Nói cách khác, hai vị thượng thủ Duy Ma và Văn Thù luận bàn về pháp Bồ tát thì Thanh văn không còn chỗ nào chen vô. Mang tâm niệm Thanh văn, nên nghe pháp Bồ tát cảm thấy lạc lõng.

Đến đây, Duy Ma muốn nói lên tâm niệm sai lầm, sự tự ti mặc cảm của Thanh văn. Họ thường nghĩ Phật cao vòi vọi, còn thân phận chúng ta thấp kém. Hay đó là tư tưởng của hàng Thượng tọa bộ thường khẳng định chúng ta chỉ đạt quả vị A la hán là cùng, không thể thành Phật, không thể tu hạnh Bồ tát hay không thấy chỗ ngồi của mình trong hàng Bồ tát. Duy Ma muốn phá bỏ sự tự ti mặc cảm này. Ngài tìm chỗ ngồi cho Thanh văn, bằng cách nương theo sự khởi niệm của Xá Lợi Phất để hỏi Xá Lợi Phất đến tìm chỗ ngồi hay cầu pháp.

Câu chuyện giữa Văn Thù và Duy Ma đến đỉnh cao, thay vì kết thúc, nhưng bị Xá Lợi Phất cắt đứt, vì sự hiểu biết của con người không vói tới được. Vì vậy, Duy Ma phải quay ngược lại.

Đỉnh cao của Văn Thù và Duy Ma gặp nhau ví như Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm cho Bồ tát siêu hình trong Pháp giới quá cao. Làm thế nào con người trong sanh tử nắm bắt được. Ngài phải trở lại pháp phương tiện nói kinh A Hàm.

Xá Lợi Phất trả lời Duy Ma rằng ngài đến cầu pháp, không cầu chỗ ngồi. Duy Ma liền chỉnh rằng không cầu chỗ ngồi, tại sao lại nghĩ đến chỗ ngồi. Xá Lợi Phất có khởi niệm chỗ ngồi, là đã rớt vô sai lầm, mà vẫn không biết mình sai. Điểm này gợi cho chúng ta suy nghĩ trên bước đường tu, cần biết rõ được chính mình là việc quan trọng. Riêng Bồ tát, chắc chắn nhận biết và kiểm soát được từng tâm niệm của các ngài. Chúng ta tu suốt đời, không đắc đạo vì khởi tâm động niệm liền liền. Hãy thử kiểm tra xem một ngày, chúng ta động niệm bao nhiêu lần.

Duy Ma hỏi Xá Lợi Phất cầu pháp gì, có phải pháp trần nằm trong sắc, thanh, hương, vị, xúc hay không. Câu hỏi này nêu lên cho Xá Lợi Phất cũng là vấn đề đặt ra cho chính chúng ta. Chúng ta tu hành cầu pháp Thanh văn, Bồ tát hay pháp thế gian.

Pháp thế gian nghe bằng tai và nhận biết bằng tâm niệm thế gian, nên nghe pháp rồi không đắc đạo, không giải thoát. Phật dạy "Tà nhân thuyết chánh pháp, chánh pháp tức quy tà”. Nghĩa là đứng ở lập trường vọng niệm căn trần thức, mà thuyết pháp và nghe pháp. Đó chỉ là pháp thế gian hay pháp sanh diệt mà Duy Ma gọi là cầu sắc, thanh, hương, vị, xúc. Trên bước đường tu, chúng ta thường dễ lầm điều này. Có người nghiên cứu lý giải Phật pháp thật nhiều, nhưng không giải thoát. Họ từ bỏ tham vọng buồn phiền trên cuộc đời còn không được, huống chi là bất tư nghì giải thoát. Hoặc có người suốt đời nghe pháp, nhưng chỉ toàn phiền não chồng chất thêm. Trong khi có người nghe phap, không biết nghe cái gì, nhưng nghe xong, họ cảm thấy có sự chuyển biến thay đổi trong lòng, phiền não trần cấu tự sạch và thấy được sự thật của sự vật. Do cảm pháp mà chuyển phiền não thành hương sen. Đó là một phần nhỏ trong bất tư nghì giải thoát, nên pháp Phật được ví như nước có công năng rửa sạch tất cả cấu uế. Người ngoài không thể biết hương vị giải thoát của người tu chứng. Kinh diễn tả như người uống nước mới biết mùi vị của nước.

Cùng một pháp, nhưng hai tâm niệm khác nhau, nên sự tiếp thu phải khác. Người nghe pháp lòng nhẹ nhàng, phiền não tự rơi rụng là người cầu pháp Thanh văn; bấy giờ hnh giả nghe thanh trần mà chứng Pháp thân.

Người cầu sắc, thanh, hương hay cầu pháp thế gian chỉ nghe chơi, rồi đâu cũng vào đó, cuộc sốn