cool hit counter

Trí Quảng Toàn Tập - Quyển V - Kinh Đại Bảo Tích - Tập 1


Học Phật pháp không phải là học nhồi sọ, nhưng học bằng sự suy nghĩ và áp dụng trong cuộc sống. Hiểu được yếu nghĩa của pháp Phật và áp dụng thành công trong đời thường mới là điều quan trọng và không đơn giản. Vì vậy, nhiều người học pháp Phật, nhưng áp dụng được thì không có mấy người.

Đức Phật tại thế, Ngài thuyết pháp tùy chỗ, tùy lúc, tùy người mà khai thị các pháp tương ưng và khác nhau. Có thể khẳng định rằng khi Phật còn tại thế giáo hóa, Ngài không đưa ra pháp môn cố định. Các Tỳ kheo học với Phật những pháp khác nhau, thậm chí chúng ta thấy có những mâu thuẫn. Đó là sự thật, vì Đức Phật là bậc Chánh biến tri. Đến nơi nào giáo hóa, Ngài đều quan sát hoàn cảnh nơi đó, nên nói những gì mà người nghe chấp nhận và sửa đổi được thân khẩu ý của họ trở thành tốt đẹp. Điều này thể hiện rằng pháp không cố định. Đó là ý thứ nhất mà người học Phật phải nhận ra. Ngày nay, chúng ta học Phật cũng vậy, học trí tuệ của Phật, không phải học ngữ ngôn văn tự mà Phật để lại. Chỉ học ngữ ngôn văn tự và vướng mắc với nó thì trở thành chấp pháp, sẽ không được an lạc, giải thoát.

Tất cả pháp Phật dạy nhằm mục tiêu giúp chúng ta cởi bỏ phiền não để phát sanh trí tuệ. Và trí tuệ này là trí khôn giúp chúng ta hiểu biết sự việc chính xác, biết cách xử thế đúng đắn, mang lại lợi lạc cho mình và người. Không phải học để phân tích phải trái, không được gì; không phải chấp lời Phật rồi thấy ai làm khác, mình khó chịu.

Học tất cả những gì Phật dạy, nhưng học xong phải bỏ tất cả để huệ sinh ra và tùy từng lúc, từng người mà giảng dạy khác nhau, làm cho người được lợi ích. Pháp Phật tạm ví như thức ăn. Không có thức ăn, chúng ta không sống được; nhưng chính yếu của chúng ta là sự sống, không phải thức ăn. Phải chọn thức ăn giúp chúng ta khỏe mạnh. Cùng một thức ăn mà có người dùng lại sinh bệnh, vì không hạp, vì cơ thể mỗi người không giống nhau. Cơ thể khác, nghiệp khác, nên pháp áp dụng cũng phải khác.

Phải chọn pháp thích hợp cho chúng ta sự sống tốt và tu hành đạt kết quả cao. Tôi chọn kinh Pháp Hoa làm lẽ sống, nên tiến tu được; nhưng không phải ai cũng làm như tôi được. Thật vậy, tôi thích hợp với việc suy tư, lễ bái, tụng niệm. Người sợ tụng kinh là không thích hợp.

Vì vậy, chúng ta không chấp pháp, nhưng chọn pháp thích hợp để nuôi giới thân huệ mạng phát triển. Làm thế nào mỗi ngày con người đạo đức của chúng ta lớn mạnh, huệ sáng ra. Có thể nói trên bước đường tu, chúng ta trải qua giai đoạn dài, lúc còn trẻ, đến trưởng thành và khi lớn tuổi, từng thời kỳ khác nhau, thì pháp ứng dụng cũng phải khác. Chúng ta trưởng thành đòi hỏi tri thức phải phát triển hơn, không thể cố định. Thực tế cho thấy có Hòa thượng trước tu Tịnh độ, sau lại thích tham Thiền. Vì cơ thể thay đổi, giới thân huệ mạng của họ trưởng thành, nảy sinh những yêu cầu khác, họ phải thay đổi pháp tương ưng. Chúng ta thấy vậy mà phê phán thì không đúng.

Học kinh Bảo Tích phải có ý thức như vậy để nhận chân được cuộc sống thật củachúng ta. Tại sao vị này làm một việc gì đó, được coi là trì giới thanh tịnh; trong khi người khác làm lai bị chỉ trích là phá giới. Chúng ta cần suy nghĩ ý này. Hành Bồ tát đạo khác với Thanh văn đạo, giới thân huệ mạng ở Bồ tát khác với Thanh văn. Chúng ta không chê người khác. Pháp này thích hợp với ta thì hành trì, không thích hợp với người thì họkhông thể hành trì.

Không có bộ kinh cố định cho chúng ta, vì Phật tùy duyên mà thuyết pháp. Không phải như Trí Giả nói rằng Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm trong hai mươi mốt ngày rồi đến kinh A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã và Pháp Hoa, Niết Bàn. Phật giảng dạy trong bốn mươi chín năm gồm có các bo kinh vừa nói, không phải tám năm sau cùng mới nói Pháp Hoa. Đối với từng lúc, từng chỗ, từng người, Phật nói các pháp khác nhau. Ngày nay, chúng ta có nhiều bộ kinh là do đệ tử Phật nghe được ý và tập hợp những ý đó thành những bộ kinh, thành những chuyên đề.

Kinh căn ban Nguyên thủy là kinh Nikaya được tập hợp trước tiên, gọi là Thanh văn tạng do các vị Thanh văn gồm năm trăm La hán kiết tập. Sư thật các Ngài cùng tập hợp lại và trao đổi với nhau, chứ không viết thành sách, thành văn như ngày nay chúng ta có. Không phải trong mười hai năm Phật nói kinh A Hàm. Nhưng tại sao Trí Giả đại sư lại chia như vậy và chúng ta thấy cũng hợp lý. Ngài phân chia thành Ngũ thời Bát giáo như vậy không sai, vì đứng ở lập trường Pháp Hoa hay tâm thức mà chia. Trên tâm thức cô đọng thì phải chia như vậy, không phải chia theo mặt lịch sử. Đứng về mặt lịch sử mà xét thì phân chia kinh như vậy là sai, nhưng đứng về mặt giáo tông mà xét thì Ngài đúng. Và đứng về Thiền thì sự phán giáo này cũng không đúng, vì Thiền lấy ngộ làm chính, giáo ngoại biệt truyền, có ngộ thì có truyền thừa, không ngộ thì mất. Như vậy, Phật pháp vĩnh hằng. Về Thiền, hay lịch sử đã phủ nhận tính cách cố định đóng khuôn, mà cả về giáo cũng phải từ bỏ để nhận được chân ý của pháp Phật. Ngài Nhật Liên dạy rằng quan trọng nhất là chư Phật hiện tiền; nói cách khác, chúng ta cần đặt vấn đề nếu có Phật ra đời, Ngài sẽ làm gì, nói gì và chúng ta làm theo ý đó.

Đối với tôi, nếu theo tinh thần Phap Hoa, thì Phật ở thế kỷ XXI sẽ nói những điều mà mọi người chấp nhận được; những gì không được chấp nhận thì không phải của Phật nói. Ngay tại đây và trong hoàn cảnh này nói việc mà đại đa số tán đồng là hiểu Phật theo Pháp Hoa. Còn dẫn kinh Phật mà người chê bai là phạm tội phá pháp, phi pháp.

Điều thứ hai cần ý thức rằng pháp Phật là pháp giải thoát, làm cho người vui lòng, không làm người đau khổ. Chúng ta nói gì cũng được, nhưng phải tác động cho người nghe được an lạc. Trên tinh thần này, Đại thừa lấy phương tiện huệ làm chính; người chấp pháp thì gây khổ đau cho mình và người. Tôi tâm đắc ý Phật dạy rằng nói điều mà người an vui, giai thoát, tinh tấn tu hành. Nếu nói mà gây buồn phiền thì tôi không nói, vì lúc đó nói là nói lời của ma. Quan trọng của pháp Như Lai là truyền đạt tâm hoan hỷ, an vui cho người; không phải cố dẫn dụng lời Phật để chống phá người.

Việc kiết tập kinh điển cũng từ sự tập hợp những kinh nhỏ mà thành, như kinh tạng Nikaya tập hợp những câu chuyện của Phật dạy các Tỳ kheo cho đến Bà la môn. Nghĩa là Đức Phật hướng đến giải quyết những vấn đề thực tế cuộc sống và xã hội. Ngày nay chúng ta học Phật cũng vậy, nhưng xã hội của thời Phật tại thế khác hẳn xã hội của chúng ta thời hiện đại. Vì vậy, có những điều chúng ta áp dụng được và tất nhiên có cái không thể áp dụng. Nếu chúng ta cứng nhắc, cứ viện dẫn lời Phật để đưa ra những cái khuôn không dùng được trong xã hội ngày nay, thì chẳng những không có lợi cho Phật giáo, còn tác hại.

Sau thời kỳ kiết tập kinh tạng lần thứ nhất, đến giai đoạn kiết tập lần thứ hai là kinh Đại Tập, cũng tập hợp lời Phật dạy, nhưng tập hợp theo cách khác, theo thời đại mới. Ý Phật không đổi, nhưng sự nhận thức theo phương cách của thời đại sau; nên văn phong khác và cách trình bày diễn tả cho người thời đại hiểu được.

Và sau thời kỳ kinh Đại Tập, có những người cũng không bằng lòng, mới kiết tập lại lần nữa. Đó là thời kỳ kinh Bảo Tích cũng gom những lời hay ý đẹp của Phật dạy.

Có thể khẳng định rằng kinh Nikaya, kinh Đại Tập và kinh Bảo Tích là một, không khác. Nhưng kinh Nguyên thủy được tập hợp dưới dạng Thanh văn, sang đến kinh Đại Tập có sự tham gia của Bồ tát và đến kinh Bảo Tích thì phần lớn là Bồ tát. Nghĩa là kinh đầu tiên Nguyên thủy được giữ nguyên, dùng văn huệ, nên nghe sao ghi vậy. Nhưng kinh điển ở giai đoạn hai thể hiện tinh thần học có suy nghĩ, cân nhắc. Và kinh ở giai đoạn ba, thể hiện sự ứng dụng có kết quả, tiêu biểu là kinh Bảo Tích và chúng ta học bộ kinh này thấy nhiều điểm rất hay.

Đọc kinh Bảo Tích nhận thấy nhiều ý hay, tôi nêu ra sơ lược một vài thí dụ, phần triển khai sẽ